- Tranh chấp gì? "bị cáo Nguyễn Trọng T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung mộ…"
- Căn cứ chính? Điều 1 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật T tụng hình sự; Điều 2 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| `TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂY NINH TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| B n án s : 202 HS-ST Ngày 1 -4-2024 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA N NHÂN ÂN THÀNH PHỐ TÂY NINH, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Trương Thị Tuyền.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Ngọc Long;
2. Bà Huỳnh Thị Kim Oanh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Tạ Thị Th o Vy - Thư ký Tòa án nhân dân thành ph Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Trần Nhật Linh - Kiểm sát viên.
Ngày 1 tháng năm 202 , tại trụ sở Tòa án nhân dân thành ph Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý s : 35/2024/TLST-HS ngày 20 tháng năm 202 .
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử s : 202 QĐXXST-HS ngày 02 tháng năm 202 , đ i với bị cáo:
Nguyễn Trọng T, giới tính: N, sinh năm 1982, tại tỉnh Tây Ninh; nơi cư trú: Ấp T, xã T, thành ph T, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Bán vé s ; trình độ văn hóa: 9 12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; qu c tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn G, sinh năm 19 và bà Nguyễn Thị B, sinh năm 19 ; vợ Văn Thị Cẩm L, sinh năm 1990 (đã ly hôn); con: Có 01 người sinh năm 2009.
Tiền án, tiền sự: Không có.
Bị cáo Nguyễn Trọng T bị tạm giữ ngày 22 01 202 , chuyển tạm giam từ ngày 28 01 202 cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành ph T, tỉnh Tây Ninh. Bị cáo có mặt tại tòa.
NỘI UNG VỤ N:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lúc 18 giờ ngày 21 01 202 , tại đường s G, tổ E, ấp T, xã T, thành ph T, tỉnh Tây Ninh, Công an xã T tuần tra phát hiện Nguyễn Trọng T đi vào quán nước của chị Nguyễn Thị Ngọc L1, sinh năm 1989 có biểu hiện nghi vấn nên kiểm tra, phát hiện dưới nền gạch vị trí T ngồi 01 bịch nylon kẹp đầu chứa tinh thể rắn màu trắng nghi là ma túy. T khai nhận tinh thể rắn màu trắng bên trong bịch nylon là ma túy T cất giữ để sử dụng, nên lập biên b n bắt người phạm tội qu tang.
Tại kết luận giám định s 168 KL-KTHS ngày 26 01 202 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận: Mẫu tinh thể rắn màu trắng (ký hiệu M) bên trong 01 bịch nylon loại kẹp đầu gửi đến giám định là chất ma tuý, loại Methamphetamine, kh i lượng 0, 2 gam.
Quá trình điều tra xác định: Kho ng 1 giờ ngày 21 01 202 , T bán vé s ở khu vực ngã tư T thuộc xã T, thành ph T thì gặp người tên G (không rõ họ tên, địa chỉ). Do có nhu cầu sử dụng ma túy, biết G cũng sử dụng ma túy nên T hỏi mua 00.000 đồng ma túy, G đồng ý bán, hẹn 0 phút sau giao ở cây xăng gần ngã tư T. Kho ng 1 giờ cùng ngày, T đi đến nơi hẹn, G đưa cho T 01 bịch nylon loại kẹp đầu bên trong chứa ma túy. T cất giấu bịch ma túy vào túi quần bên ph i phía trước. Kho ng 18 giờ, T đến quán của chị L1 u ng nước. Lúc này, nhìn thấy lực lượng Công an xã T, lo sợ bị phát hiện nên T lấy bịch ma túy ném xu ng nền gạch tại vị trí T ngồi thì bị phát hiện bắt qu tang.
Quá trình điều tra Nguyễn Trọng T thành khẩn khai báo, ăn năn h i c i về hành vi phạm tội của mình.
Vật chứng thu giữ: 01 gói niêm phong ghi s vụ 168 có chữ ký của Giám định viên Nguyễn Văn N1, trợ lý Nguyễn Chí L2 và dấu tròn màu đỏ của phòng K Công an tỉnh T.
Qua xác minh bị cáo T không có tài s n nên không kê biên.
Tại b n Cáo trạng s
CT-VKSTC ngày 19- -202 của Viện kiểm sát nhân dân thành ph Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh đã truy t bị cáo Nguyễn Trọng T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c kho n 1 Điều 2 9 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu quan điểm về việc gi i quyết vụ án: Giữ nguyên Cáo trạng truy t đ i với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên b bị cáo Nguyễn Trọng T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Căn cứ điểm c kho n 1 Điều 2 9; điểm s kho n 1 Điều 1; Điều 8 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Trọng T từ 01 năm đến 01 năm 0 tháng tù.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đ i với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 gói niêm phong ghi s vụ 168 có chữ ký của Giám định viên Nguyễn Văn N1, trợ lý Nguyễn Chí L2 và dấu tròn màu đỏ của phòng K Công an tỉnh T.
Bị cáo T nói lời nói sau cùng: Xin gi m nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA N:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định t tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy t đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật T tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành t tụng, người tiến hành t tụng. Do đó, các hành vi, quyết định t tụng của cơ quan tiến hành t tụng, người tiến hành t tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh của bị cáo: Trong quá trình điều tra, truy t và xét xử tại phiên tòa bị cáo T thừa nhận hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án, có cơ sở xác định: Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên bị cáo đi mua ma túy của người tên G (không rỏ họ tên, địa chỉ), sau khi nhận ma túy từ người tên G bị cáo cất giấu bịch ma túy vào túi quần, kho ng 18 giờ ngày 21 01 202 bị cáo đến quán nước của chị L1 u ng nước, nhìn thấy lực lượng Công an xã T, sợ bị phát hiện nên bị cáo T lấy bịch ma túy ném xu ng nền gạch tại vị trí bị cáo ngồi thì bị bắt qu tang.
Tại kết luận giám định s 168 KL-KTHS ngày 26 01 202 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận: Mẫu tinh thể rắn màu trắng (ký hiệu M) bên trong 01 bịch nylon loại kẹp đầu gửi đến giám định là chất ma tuý, loại Methamphetamine, kh i lượng 0, 2 gam.
Do đó, đủ cơ sở kết luận bị cáo T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c kho n 1 Điều 2 9 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành ph Tây Ninh truy t bị cáo là đúng người, đúng tội.
[ ] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến chế độ độc quyền của nhà nước về các chất ma túy. Bị cáo biết rõ tác hại của việc sử dụng chất ma túy, tàng trữ chất ma túy để sử dụng, nhưng do nhu cầu của cá nhân nên bị cáo đã bất chấp pháp luật để thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Vì vậy, cần xử lý nghiêm khắc cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mới có tác dụng giáo dục và phòng ngừa.
[ ] Khi quyết định hình phạt có xem xét đến tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, gi m nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo như:
[ .1] Tình tiết tăng nặng: Không có.
[ .2] Tình tiết gi m nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội, đây là tình tiết gi m nhẹ cho bị cáo được quy định tại điểm s kho n 1 Điều 1 của Bộ luật hình sự.
[ ] Về hình phạt bổ sung: Trong quá trình điều tra xác minh bị cáo không có tài s n, nên không áp dụng hình phạt bổ sung đ i với bị cáo.
[6] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều của Bộ luật Hình sự; kho n 2 Điều 106 của Bộ luật T tụng hình sự.
Đ i với 01 gói niêm phong ghi s vụ 168 có chữ ký của Giám định viên Nguyễn Văn N1, trợ lý Nguyễn Chí L2 và dấu tròn màu đỏ của phòng K Công an tỉnh T, qua giám định kết luận: Mẫu tinh thể rắn màu trắng (ký hiệu M) bên trong 01 bịch nylon loại kẹp đầu gửi đến giám định là chất ma tuý, loại Methamphetamine, kh i lượng 0, 2 gam, đây là vật cấm tàng trữ nên tịch thu tiêu hủy.
[7] Đ i với người tên "Giàu" bán ma túy cho T do không rõ họ tên địa chỉ chưa làm việc được, Cơ quan C nh sát điều tra Công an thành ph T, tỉnh Tây Ninh tiếp tục điều tra làm rõ để xử lý sau.
Đ i với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của bị cáo T, Công an xã T đã ra quyết định xử phạt với s tiền 1. 00.000 đồng.
[8] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành ph Tây Ninh tại phiên tòa là có căn cứ chấp nhận.
[9] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Trọng T ph i chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 2 của Nghị quyết s 26 2016 UBTVQH1 ngày 30/11/2016.
Vì các l trên,
QUY T ĐỊNH:
1. Tuyên b bị cáo Nguyễn Trọng T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Căn cứ điểm c kho n 1 Điều 2 9; điểm s kho n 1 Điều 1; Điều 8 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Trọng T 01 (Một) năm tù.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 22 01 202 .
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều của Bộ luật Hình sự; kho n 2 Điều 106 của Bộ luật T tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy 01 gói niêm phong ghi s vụ 168 có chữ ký của Giám định viên Nguyễn Văn N1, trợ lý Nguyễn Chí L2 và dấu tròn màu đỏ của phòng K Công an tỉnh T.
Vật chứng trên hiện cơ quan Thi hành án dân sự thành ph T, tỉnh Tây Ninh đang giữ.
.Về án phí: Căn cứ kho n 1 Điều 2 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Qu c hội quy định về mức thu, miễn, gi m, thu, nộp, qu n lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án
Bị cáo Nguyễn Trọng T ph i chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
. Bị cáo có quyền kháng cáo đ i với b n án sơ thẩm trong hạn 1 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Tây Ninh; - VKSND TPTN; - Công an tp Tây Ninh; - CC THADS TPTN; - THAHS; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PH N – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trƣơng Thị Tuyền |