vanban.org

Bản án 35

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Đặng Văn L phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.

[1] Áp dụng khoản 1 Điều 143; điểm b, điểm h, điểm p khoản 1 Điều 46; tụng hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Đặng Văn L - phạm tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (điều 143 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đặng Văn L phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 231 Bộ luật tố tụng hình sự Xử phạt; Điều 234 Bộ luật tố tụng hình sự Xử phạt

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THẾ TỈNH BẮC GIANG

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THẾ TỈNH BẮC GIANG

Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Ngọc Chung. Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phan Văn Chung. Ông Trần Hải Đăng. Những người tiến hành tố tụng khác tại phiên tòa: Thư ký tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Giáp Văn Thìn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên Thế. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang: Ông Nguyễn Văn Hải - Kiểm sát viên. Ngày 29/9/2017 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Thế mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 36 /2017/HSST ngày 11/ 9/2017, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 33/2017/HSST-QĐ ngày 15/9/2017, đối với bị cáo: 1. Họ và tên: Đặng Văn L, sinh năm 1995; Nơi đăng ký HKTT: xã XL, huyện YT, tỉnh Bắc Giang; Chỗ ở: Bản X, xã XL, huyện YT, tỉnh Bắc Giang; Nghề nghiệp: Lái xe; Văn hoá: 9/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn Giáo: Không; Con ông Đặng Văn L1, sinh năm 1975 và con bà Thân Thị L2, sinh năm 1975; Vợ, con; chưa có Gia đình có 02 anh chị em, bị cáo là con thứ nhất; Tiền án, tiền sự: Không; Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú (Có mặt tại phiên tòa). * Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. TAND HUYỆN YÊN THẾ TỈNH BẮC GIANG Bản án số: 35/2017/HSST Ngày: 29/9/2017 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc 1. Anh Đặng Văn L1, sinh năm 1975. (Có mặt) Chỗ ở: Bản X, xã XL, huyện YT, tỉnh Bắc Giang. * Nguyên đơn dân sự. 1. UBND huyện YT, tỉnh Bắc Giang. Do ông Giáp Văn L3, sinh năm 1959. (Có mặt) Cán bộ kỹ thuật Ban quản lý dự án xây dựng huyện YT đại diện theo ủy quyền. Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1986. (Vắng mặt) Viên chức Trung tâm văn hóa - Thể thao huyện YT đại diện theo ủy quyền. 2. UBND xã XL, huyện YT do ông Ninh Quảng V, sinh năm 1970. Công chức địa chính xây dựng xã XL, huyện YT đại diện theo ủy quyền. (Vắng mặt) * Người làm chứng. 1. Anh Sầm Văn L4, sinh năm 1996. (Vắng mặt) 2. Anh Nguyễn Văn T1, sinh năm 1966. (Có mặt) 2. Anh Trần Văn B, sinh năm 1969. (Có mặt) Đều ở: Bản N, xã XL, huyện YT, tỉnh Bắc Giang. 4. Anh Hoàng Văn Q, sinh năm 1986. (Có mặt) Chỗ ở: Bản TĐ, xã XL, huyện YT, tỉnh Bắc Giang. 5. Anh Nguyễn Văn Q1, sinh năm 1974. (Vắng mặt) 6. Anh Đỗ Đình D, sinh năm 1979. (Vắng mặt) 7. Chị Hoàng Thị T2, sinh năm 1982. (Vắng mặt) 8. Chị Đoàn Thị C, sinh năm 1978. (Vắng mặt) Đều ở: Bản ĐG, xã XL, huyện YT, tỉnh Bắc Giang. 9. Anh Nông Văn T2, sinh năm 1980. (Vắng mặt) 10. Anh Đỗ Tiến Đ, sinh năm 1989. (Vắng mặt) Đều ở: Bản LD, xã XL, huyện YT, ỉnh Bắc Giang. 11. Ông Nông Văn S, sinh năm 1959. (Vắng mặt) Chỗ ở: BX, xã XL, huyện YT, tỉnh Bắc Giang. 12. Ông Hoàng Văn K, sinh năm 1954. (Vắng mặt) 13. Bà Triệu Thị D1, sinh năm 1953. (Vắng mặt) 14. Anh Hoàng Văn B1, sinh năm 1985. (Có mặt) 15. Anh Hoàng Văn L5, sinh năm 1990. (Vắng mặt) 16. Chị Đặng Thị Thúy L6, sinh năm 1999. (Vắng mặt) Đều ở: Bản TM, xã ĐV, huyện YT, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Bị cáo Đặng Văn L bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang truy tố về hành vi phạm tội như sau: Khoảng 18 giờ ngày 29/4/2017, Đặng Văn L, sinh năm 1995 ở bản X, xã XL, huyện YT, tỉnh Bắc Giang điều khiển xe ô tô tải biển kiểm soát 89K - 6033 từ nhà em gái là Đặng Thị Thúy L6, sinh năm 1999 lấy chồng ở bản TM, xã ĐV, huyện YT để về nhà. Khi về đến bản MT, xã TT, huyện YT thì L vào một quán để ăn tối. Ăn tối xong khoảng 20 giờ cùng ngày, L tiếp tục điều khiển xe ô tô về. Khi đi đến bản LD, xã XL, L nhìn thấy phía trước có 01 cổng chào khu du lịch XL - TN của xã XL. Do bực tức cổng chào có kích thước nhỏ, gây cản trở cho L khi lái xe ô tô vận chuyển gỗ đi bán trong những ngày trước đó nên L đã nảy sinh ý định làm hư hỏng cổng chào. L điều khiển xe ô tô đi qua cổng chào đến vị trí thành thùng xe ô tô phía sau cách cổng chào khoảng 03m, L dừng lại về số lùi rồi nhấn ga điều khiển xe ô tô lùi về phía bên phải làm phần thùng xe ô tô phía sau xe ô tô va chạm vào cột cổng chào bên phải làm hư hỏng cột cổng chào. Sau đó, L điều khiển xe ô tô đi về đến bản N, xã XL thì nhìn thấy ở rìa đường bên phải có 01 biển chỉ dẫn cây Lim và đền thề Thần mộc, L tiếp tục điều khiển xe ô tô vượt qua biển chỉ dẫn đến vị trí phần thành thùng xe ô tô phía sau cách biển chỉ dẫn khoảng hơn 01m thì dừng lại. L về số lùi rồi điều khiển xe ô tô lùi lại phía sau về phía bên phải làm phần thùng xe ô tô phía sau va chạm làm hư hỏng biển chỉ dẫn. L điều khiển xe ô tô đi tiếp khoảng hơn 100m thì nhìn thấy 01 biển quảng bá du lịch YT được đặt ở bãi đất trống bên phải đường, gần chân đồi cây Lim di sản. L tiếp tục nảy sinh ý định làm hư hỏng biển quảng bá và điều khiển xe ô tô đi vượt ngang qua vị trí biển quảng bá thì đỗ xe lại. L về số lùi rồi điều khiển xe ô tô lùi vào biển quảng bá làm hư hỏng biển quảng bá. Sau đó, L điều khiển xe ô tô đi về nhà ngủ. Sau khi thấy L về nhà, anh Đặng Văn L1 (là bố đẻ L) dậy kiểm tra đã phát hiện thấy thùng xe ô tô có bám dính 01 mảnh tấm bạt, anh L1 gọi vợ là chị Thân Thị L2 dậy để cùng gấp tấm bạt lại rồi để ở gần khu vực để xe ô tô. Sau khi biết việc L lùi xe ô tô làm hư hỏng biển quảng bá, ngày hôm sau anh L1 đã giấu tấm bạt lên đồi của gia đình. Ngày 30/4/2017, Cơ quan điều tra tạm giữ của anh Đặng Văn L1 01 ô tô tải biển kiểm soát 89K - 6033. Ngày 02/5/2017, khi được Cơ quan điều tra triệu tập làm việc, Đặng Văn L đã khai nhận rõ hành vi của mình như đã nêu trên. Cơ quan điều tra tiến hành xác minh hiện trường tại bản LD, xã XL thể hiện: 01 cổng chào bằng khung kim loại màu sơn trắng bạc, hai bên cột cổng chào được dựng bởi 04 ống kim loại hình trụ tròn có chu vi bằng nhau là 29cm và 04 ống được giằng bằng các đoạn ống kim loại có chu vi 16cm, phía trên hai cột cổng chào được nối ngang nhau bởi các ống kim loại có chu vi 25cm, phía trên các thanh ngang có gắn lô gô và chữ, hai cột cổng được đặt hai bên lề đường. Hai cột cổng cách nhau 4,25m. Tại các chân cột cổng có đế kim loại cao 30cm, có một phần thò ra về phía lòng đường so với cột cổng là 10cm, mỗi bên cột cổng chào đều có 04 ống kim loại hình trụ, 04 ống cách nhau đều là 70cm. Từ mặt đường nhựa lên tới thanh ngang nối giữa hai cột cổng chào là 3,33m. Tại cột cổng bên trái theo hướng từ bản X ra Quốc lộ 17 theo hướng Bắc - Nam phát hiện 04 ống kim loại hình trụ bị cong về phía Bắc. Tại ống trụ tròn thứ nhất (cột phía trong giáp với lòng đường) cột phía trước theo hướng Bắc - Nam phát hiện chân cột bị gãy rời ra khỏi vị trí ban đầu, cách nền đường 34cm. Từ vị trí gãy lên phía trên của cột trụ thứ nhất 1,08m là cạnh dưới của một vết bẹp lõm, vết bẹp lõm có kích thước (12 x 10)cm. Tại mặt ngoài phía Bắc, tại vết bẹp lõm có bám dính nhiều tạp chất màu xanh. Cột trụ thứ hai giáp với lòng đường bị gãy rời ra khỏi vị trí ban đầu, vết gãy cách nền mặt đường 34cm. Từ vết gãy lên phía trên 45cm có vết bẹp lõm cong theo hướng Bắc - Nam. Hai cột trụ phía ngoài giáp với cánh đồng đều có hai vết cong hướng từ bản X đi Quốc lộ 17 hướng Bắc - Nam, cách mặt đất lần lượt là 75cm và 1,40m. Tại các vết cong, bẹp, lõm của 04 ống trụ kim loại thì các mối hàn giữa các thanh giằng với 04 ống trụ bị bật một đầu rời ra khỏi vị trí ban đầu. Tại cột cổng bên phải theo hướng Bắc - Nam từ bản X đi Quốc lộ 17 phát hiện một vết bẹp lõm tại cột trụ đầu tiên giáp với lòng đường ở vị trí cách mặt đất là 1,45m, vết bẹp lõm có kích thước (10 x7) cm. Thu giữ dấu vết bẹp lõm bám dính tạp chất màu xanh tại cột thứ nhất giáp lòng đường theo hướng từ bản X đi Quốc lộ 17. Kết quả khám nghiệm hiện trường tại bản N, xã XL thể hiện: Biển quảng bá du lịch YT được làm bằng ống và thanh kim loại được kết nối với nhau bằng mối hàn. Mặt trước là bạt in phun khổ lớn đã bị rách, bật khỏi vị trí ban đầu. Bao gồm 05 cột được làm bằng ống kim loại đã bị cong gập, cột số 03 đã bị bật đế chân trụ lên khỏi mặt đất, cột số 04 cong gập; Trên mặt tại vị trí mặt ngoài hướng ra đường có một vết bẹp lõm ống bằng kim loại kích thước (30 x 10) cm, tại vết lõm có bám dính tạp chất màu xanh - đỏ. Vị trí vết lõm cách mặt đất là 1,48m, khoảng cách từ chân cột số 01 đến chân cột số 05 là 13,36m. Các thanh giằng ngang, dọc bằng kim loại của biển quảng bá bị cong, vênh, đứt, bật khỏi vị trí ban đầu, tấm bạt in phun ở mặt trước biển đã bị rách mất một phần bạt. Mở rộng hiện trường theo hướng đi ra Ủy ban nhân dân xã XL phát hiện 01 biển chỉ dẫn cây Lim bị gãy đổ nghiêng về phía Ủy ban nhân dân xã XL. Quá trình khám nghiệm thu giữ gồm: 01 (một) đoạn ống bằng kim loại hình tròn có chiều dài 44cm, đường kính là 09cm, một mặt có vết bẹp lõm kích thước (30 x 10)cm, trên bề mặt có bám dính nhiều tạp chất màu xanh - đỏ thu tại cột số 04; Mẫu sơn thu tại cột biển chỉ dẫn đi vào cây Lim và khu du lịch TN (màu đỏ và màu trắng); 01 (một) mảnh bạt in phun có kích thước (01 x 0,6)m được thu tại mặt trước của biển quảng bá khu du lịch YT đặt tại XL, huyện YT. Tại biên bản khám phương tiện thể hiện: Xe ô tô tải biển kiểm soát 98K - 6033 có chiều dài của thùng xe 4,1m, chiều rộng thùng xe 2,33m, chiều cao của thành xe 86cm. Chiều cao từ mép thành thùng xe xuống mặt đất là 2,18m. Chiều cao của nóc ca bin xuống tới mặt đất là 2,54m. Khung đỡ ván hậu phía sau đuôi xe có vết trà sát bong tróc sơn cụ thể: Gong gắn ván hậu thành xe bên trái phía sau có các dấu vết trà sát kim loại bong tróc sơn kích thước (6,5 x 10) cm, cách mặt đất 1,57m và được kí hiệu (1); Cách 26cm là tâm của gong gắn ván hậu thành xe bên trái phía sau được kí hiệu (2) có vết trà sát sơn kích thước (6x8) cm; Cách 22cm là tâm của gong gắn ván hậu thành xe bên trái phía sau được kí hiệu (3) có vết trà sát sơn kích thước (6x7)cm; Cách bên phải thành xe phía sau có đám trà sát sơn kích thước (37x,7,6)cm, cách mặt đất 1,7m. Mặt ngoài cạnh dưới phía sau thùng xe có đám trà sát sơn kích thước 2,25m x 7,8m. Thu giữ mẫu tạp chất màu đỏ tại mặt ngoài phía sau cạnh dưới thành xe; Mẫu mảnh nhựa bám dính ở cạnh dưới thành thùng xe phía sau. Cơ quan điều tra thu giữ các mẫu vật gồm: Mẫu sơn thu tại vị trí đuôi thùng xe ô tô biển kiểm soát 89K - 6033 cách thành xe bên phải 10cm; Các mảnh vụn màu trắng - đỏ thu giữ tại mặt ngoài thành sắt si phụ và móc nối gắn vào sắt si của xe ô tô biển kiểm soát 89K - 6033 tại vị trí cách mặt đất là 96cm và 102cm; 01 (một) miếng nhựa mềm (dạng bạt) có kích thước là (1,5 x 1)cm màu trắng thu giữ tại mặt trên dầm ngang sắt si phụ của xe ô tô biển kiểm soát 89K - 6033, cách mặt đất là 1,3m, cách thành xe bên trái 97cm; 01 (một) sợi tơ màu trắng thu giữ tại đuôi xe bên phải của ô tô biển kiểm soát 89K - 6033, cách đất 1,65m, cách thành thùng xe bên phải 25cm; Mẫu sơn thu tại vị trí đuôi thùng xe ô tô biển kiểm soát 89K - 6033, cách thành xe bên phải 47cm; Mẫu tạp chất màu đỏ thu tại mặt ngoài phía sau cạnh dưới thành xe, cách thành xe bên phải 55cm, cách mặt đất 1,38m; Một số mảnh nhựa bám dính ở cạnh dưới thành thùng xe phía sau, cách thành xe bên phải 40cm, cách mặt đất 1,3m; 01 (một) mảnh cao su màu đen thu giữ tại lốp sau ngoài bên trái ô tô biển kiểm soát 89K - 6033. Ngày 02/5/2017, Cơ quan điều tra tạm giữ của Đặng Văn L1: 01 (một) miếng bạt hình chữ nhật, một mặt trắng, một mặt có nhiều hoa văn màu trắng - đỏ - xanh - hồng - vàng - đen, trên mặt có hoa văn có ghi chữ Lễ hội YT và cây di sản cây Lim xanh và gà đồi YT, chè bản V, XL, YT; Miếng bạt có kích thước chiều dài là 11,5m, chỗ hẹp nhất là 1,67m, chỗ rộng nhất là 2,25m. Ngày 25/8/2017, tạm giữ của Đặng Văn L1 01 bản sao đăng ký xe ô tô tải biển kiểm soát 89K - 6033. Cơ quan điều tra đã ra các Quyết định trưng cầu định giá tài sản để định giá thiệt hại tài sản do Đặng Văn L gây ra. Tại Kết luận định giá tài sản số 22; 23 và 25 cùng ngày 22/5/2017 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện YT kết luận: - 01 cổng chào được thiết kế hàn khung thép được định giá là: 3.246.501đồng (ba triệu hai trăm bốn mươi sáu nghìn năm trăm linh một đồng); - 01 biển quảng bá du lịch YT được định giá là: 6.389.556đồng (sáu triệu ba trăm tám mươi chín nghìn năm trăm năm mươi sáu đồng). - 01 biển chỉ dẫn cây Lim và đền thề Thần mộc được định giá là: 499.138đồng (bốn trăm chín mươi chín nghìn một trăm ba mươi tám đồng). Tổng giá trị tài sản thiệt hại do Đặng Văn L gây ra là 10.135.195đồng (mười triệu một trăm ba mươi năm nghìn một trăm chín mươi năm đồng). Cơ quan điều tra đã ra các Quyết định trưng cầu giám định để giám định các mẫu vật thu giữ. Tại Kết luận giám định số 2229/C54(P4) ngày 22/6/2017 của Viện khoa học hình sự Bộ Công an kết luận: Chất màu xanh bám dính trên bề mặt đoạn ống kim loại có chiều dài 44cm, đường kính 9cm và mảnh ống kẽm có kích thước (16,2x12) cm gửi giám định đều là sơn, đều cùng loại với sơn màu xanh thu tại vị trí đuôi thùng xe ô tô biển kiểm soát 89K - 6033 cách thành thùng xe bên phải 47 cm (ký hiệu M4) và sơn màu xanh thu tại vị trí đuôi thùng xe ô tô biển kiểm soát 89K - 6033 cách thành xe bên phải 10cm (ký hiệu M5) gửi làm mẫu so sánh; Các mảnh vụn màu trắng, đỏ thu giữ tại mặt ngoài thành sắt si phụ và móc nối gắn vào sắt si xe ô tô biển kiểm soát 89K - 6033 (ký hiệu M3) gửi giám định là sơn, cùng loại với sơn màu trắng, sơn màu đỏ thu tại cột biển chỉ dẫn đi cây Lim và khu du lịch Thác Ngà (ký hiệu M6).(Bút lục số 297, 298). Tại Kết luận giám định số 2230/C54(P4) ngày 05/6/2017 của Viện khoa học hình sự Bộ Công an kết luận: Mẫu dạng sợi màu trắng (ký hiệu M1) gửi giám định là sợi nhân tạo cùng loại với mẫu sợi trong tấm bạt (ký hiệu 01) gửi làm mẫu so sánh; Mẫu chất màu đỏ (ký hiệu M9) gửi giám định cùng loại với chất màu đỏ trên tấm bạt (ký hiệu 01) gửi làm mẫu so sánh; Tấm bạt (ký hiệu 02) gửi giám định cùng loại với tấm bạt (ký hiệu 01) gửi làm mẫu so sánh. Tại Cơ quan điều tra, ban đầu Đặng Văn L không thừa nhận hành vi phạm tội. Qua đấu tranh, L đã khai nhận hành vi điều khiển xe ô tô tải biển kiểm soát 89K - 6033 cố ý làm hư hỏng 01 cổng chào, 01 biển quảng bá, 01 biển chỉ dẫn. Đặng Văn L cho rằng nguyên nhân là do bực tức UBND xã XL không cấp phép khai thác rừng cho L và cổng chào có kích thước nhỏ, gây cản trở cho L khi lái xe ô tô vận chuyển gỗ đi bán trong những ngày trước đó nên đã cố ý làm hư hỏng tài sản nêu trên. Tiến hành thực nghiệm điều tra, kết quả: Đặng Văn L đã thực hiện thành thục các động tác lái xe ô tô lùi làm hư hỏng các tài sản nêu trên. Về các tài sản bị hư hỏng: 01 cổng chào, 01 biển quảng bá là tài sản của Ủy ban nhân dân huyện YT. Quá trình điều tra, UBND huyện YT đã ủy quyền cho Trung tâm Văn hóa -Thể thao do ông Nguyễn Văn T đại diện và ủy quyền cho Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng huyện YT do ông Giáp Văn L3 đại diện tham gia tố tụng giải quyết vụ án. 01 biển chỉ dẫn là tài sản của Ủy bản nhân dân xã XL do ông Ninh Quảng V đại diện tham gia tố tụng giải quyết vụ án. Đối với chiếc xe ô tô tải biển kiểm soát 89K - 6033 là tài sản hợp pháp của anh Đặng Văn L1. Anh L1 không biết L sử dụng xe ô tô làm hư hỏng các tài sản. Ngày 25/8/2017, Cơ quan điều tra ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại chiếc xe ô tô trên cho anh L1, anh L1 không có yêu cầu gì khác. Quá trình điều tra, Đặng Văn L tự nguyện sửa chữa lại 01 biển quảng bá, 01 biển chỉ dẫn và giao nộp số tiền 10 triệu đồng để sửa chữa hư hỏng cổng chào. Anh Ninh Quảng V và anh Nguyễn Văn T không yêu cầu, đề nghị bồi thường gì thêm. Anh Giáp Văn L3 có đơn đề nghị bồi thường thiệt hại chiếc cổng chào số tiền là 20 triệu đồng. Ngoài bị thiệt hại 01 biển chỉ dẫn cây Lim và đền thề Thần mộc, Ủy ban nhân dân xã XL còn bị hư hỏng 01 biển chỉ dẫn vào khu sinh thái Thác Ngà; 01 biển chỉ dẫn hồ sinh thái Ngạc Hai. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh hiện trường và định giá tài sản đối với 02 biển chỉ dẫn nêu trên. Tuy nhiên, qua đấu tranh, Đặng Văn L không thừa nhận làm hư hỏng 02 biển chỉ dẫn này. Do đó, Cơ quan điều tra đã tách phần tài liệu và vật chứng có liên quan để điều tra, làm rõ xử lý sau. Trong vụ án, ban đầu anh Đặng Văn L1 khai nhận tự mình điều khiển xe ô tô làm hư hỏng các tài sản trên nhưng sau đó đã khai đúng sự thật. Đối với hành vi không tố giác hành vi phạm tội của Đặng Văn L; Xét thấy, hành vi của anh Đặng Văn L1 không đủ yếu tố cấu thành tội “Không tố giác tội phạm” nên Cơ quan điều tra không xử lý. Tại bản cáo trạng số 36/QĐ-KSĐT ngày 11/9/2017, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thế Truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện YT để xét xử đối với bị cáo Đặng Văn L có lý lịch nêu trên về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo khoản 1 Điều 143 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa bị cáo Đặng Văn L đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra có trong hồ sơ vụ án. Đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố trình bầy luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Đặng Văn L phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”; Áp dụng khoản 1 Điều 143; điểm b, điểm h, điểm p khoản 1 Điều 46; Điều 45; khoản 1, khoản 2 Điều 60 Bộ luật hình sự; Điều 231, Điều 234 Bộ luật tố tụng hình sự Xử phạt: Đặng Văn L từ 09 tháng đến 12 tháng tù. Nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 tháng đến 24 tháng. Thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho UBND xã XL, huyện YT giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Miễn phạt tiền cho bị cáo. Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị về xử lý vật chứng, án phí và trách nhiệm dân sự. Bị cáo Đặng Văn L không có ý kiến tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo Đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo. Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau: [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện YT, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện YT, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. [2] Tại phiên toà hôm nay, bị cáo Đặng Văn L có mặt đã khai nhận rõ hành vi phạm tội của mình như nội dung của bản Cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường cùng tang vật chứng thu giữ được, lời khai của người liên quan, lời khai của những người làm chứng và các tài liệu khác do Cơ quan điều tra thu thập, đã có đủ cơ sở để kết luận: Do bực tức UBND xã XL không cấp phép cho khai thác rừng và bực tức cổng chào có kích thước nhỏ, gây cản trở khi lái xe ô tô vận chuyển gỗ đi bán nên khoảng 20 giờ ngày 29/4/2017, Đặng Văn L điều khiển xe ô tô tải biển kiểm soát 89K - 6033 cho xe ô tô lùi làm hư hỏng 01 cổng chào, 01 biển quảng bá du lịch YT của UBND huyện YT; làm hư hỏng 01 biển chỉ dẫn cây Lim và đền thề Thần mộc của UBND xã XL. Các tài sản này được đặt tại địa bàn xã XL, huyện YT, tỉnh Bắc Giang. Tổng giá trị tài sản bị hư hỏng do Đặng Văn L gây ra là 10.135.195đ. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo đủ độ tuổi và năng lực chịu trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp nên đã đủ yếu tố cấu thành tội " Cố ý làm hư hỏng tài sản". Như vậy bản cáo trạng số 36/KSĐT ngày 11/9/2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện YT đã truy tố Đặng Văn L về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo khoản 1 Điều 143 Bộ luật hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội nó không những xâm phạm đến tài sản của Nhà nước, lĩnh vực an toàn trật tự công cộng, mà còn gây bức xúc trong quần chúng nhân dân, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Do vậy cần phải xử lý bằng pháp luật hình sự đối với bị cáo nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho loại tội phạm này. [3] Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Hội đồng xét xử thấy; * Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Theo Bộ luật hình sự năm 1999 thì bị cáo Đặng Văn L đã có hành vi xâm phạm đến tài sản của Nhà nước, đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên theo điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 thì không có tình tiết tăng nặng này. Do đó cần áp dụng các điều luật có lợi cho bị cáo theo các quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14; khoản 3 Điều 7 Bộ luật hình sự số 100/2015/QH13 và điểm b khoản 1 Điều 1 Nghị quyết số 109/2015/QH13 để xem xét cho bị cáo. * Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay bị cáo khai báo thành khẩn và tỏ ra ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo đã chủ động khắc phục toàn bộ hậu quả nên cần áp dụng điểm h, p, b khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo khi lượng hình. [4] Từ những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự Hội đồng xét xử thấy: Bị cáo tuổi đời còn trẻ, phạm tội do bột phát, có nhiều tình tiết giảm nhẹ qui định tại Điều 46 Bộ luật hình sự, nhân thân chưa có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú ổn định rõ ràng; có khả năng cải tạo ngoài xã hội dưới sự giám sát giáo dục của chính quyền địa phương cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội. [5] Đối với 01 biển chỉ dẫn vào khu sinh thái Thác Ngà và 01 biển chỉ dẫn hồ sinh thái Ngọc Hải bị hư hỏng, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh hiện trường và định giá đối với 02 biển chỉ dẫn nêu trên. Tuy nhiên quá trình đấu tranh Đặng Văn L không thừa nhận làm hư hỏng 02 biển chỉ dẫn này. Do đó, Cơ quan điều tra đã tách phần tài liệu và vật chứng có liên quan để điều tra xử lý sau. [6] Đối với anh Đặng Văn L1 có hành vi không tố giác hành vi phạm tội của Đặng Văn L, xét thấy hành vi của anh L1 không đủ yếu tố cấu thành tội “Không tố giác tội phạm” nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý là đúng. [7] Về trách nhiệm dân sự Bị cáo Đặng Văn L đã tự nguyện sửa chữa lại 01 biển quảng bá của UBND huyện YT và 01 biển chỉ dẫn của UBND xã XL nguyên đơn dân sự là UBND huyện YT do ông Nguyễn Văn T đại diện theo ủy quyền và UBND xã XL do ông Ninh Quang V đại diện theo ủy quyền đều không có yêu cầu bồi thường gì thêm nên không đặt ra xem xét. UBND huyện YT là nguyên đơn dân sự do ông Giáp Văn L3 đại diện theo ủy quyền có đề nghị bồi thương 20.000.000đ để sửa chữa cổng chào. Trong quá trình điều tra bố đẻ bị cáo là ông L1 đã tự nguyện nộp 10.000.000đ cho Cơ quan điều tra và nộp cho chi cục thi hành án dân sự huyện YT 10.000.000đ tại biên lai số AA/2010/006925 ngày 20/9/2007. Tại phiên tòa hôm nay bị cáo và nguyên đơn dân sự thống nhất thỏa thuận bị cáo có trách nhiệm bồi thường cho UBND huyện YT số tiền 20.000.000đ. Do vậy cần công nhận sự thỏa thuận giữa bị cáo và UBND huyện YT. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông L1 cũng không yêu cầu bị cáo phải trả lại ông số tiền trên nên HĐXX không đặt ra xem xét giải quyết. [7] Về vật chứng của vụ án: Đối với chiếc xe ô tô tải biển kiểm soát 98K-6033 Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho anh Đặng Văn L1 là thỏa đáng. Đối với 01 tấm bạt dạng hình chữ nhật, một mặt trắng, một mặt có nhiều hoa văn có dòng chữ “Lễ hội Yên Thế”, “Cây di sản”; 01 (một) đoạn ống bằng kim loại hình tròn có chiều dài 44cm, đường kính là 09cm, một mặt có vết bẹp lõm kích thước (30 x 10)cm, trên bề mặt có bám dính nhiều tạp chất màu xanh - đỏ thu tại cột số 04; 01 mảnh ống kẽm kích thước (16,2x12) cm không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy. [8] Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật. [9] Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và nguyên đơn dân sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Đặng Văn L phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”. [1] Áp dụng khoản 1 Điều 143; điểm b, điểm h, điểm p khoản 1 Điều 46; Điều 45; khoản 1 khoản 2 Điều 60 Bộ luật hình sự; Điều 231; Điều 234 Bộ luật tố tụng hình sự. Xử phạt: Đặng Văn L 10 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 20 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho UBND xã XL, huyện YT, tỉnh Bắc Giang giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo. Trường hợp bị cáo Đặng Văn L thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự. [2] Trách nhiệm dân sự; Áp dụng khoản 1 Điều 42 Bộ luật hình sự Điều 584; Điều 585; Điều 589 Bộ luật dân sự. Công nhận sự thỏa thuận giữa bị cáo Đặng Văn L và UBND huyện YT, bị cáo có trách nhiệm bồi thường cho UBND huyện YT 20.000.000đ - Xác nhận bị cáo L đã nộp 10.000.000đ cho Cơ quan điều tra và 10.00.000đ tại chi cục thi hành án dân sự huyện YT, theo biên lai số AA/2010/006925 ngày 20/9/2007. UBND huyện YT được nhận số tiền 20.000.000đ bị cáo đã nộp. * Về tang vật: Áp dụng điểm đ khoản 2, khoản 3 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy: 01 tấm bạt dạng hình chữ nhật, một mặt trắng, một mặt có nhiều hoa văn có dòng chữ “Lễ hội Yên Thế”, “Cây di sản”; 01 (một) đoạn ống bằng kim loại hình tròn có chiều dài 44cm, đường kính là 09cm, một mặt có vết bẹp lõm kích thước (30 x 10)cm, trên bề mặt có bám dính nhiều tạp chất màu xanh - đỏ thu tại cột số 04; 01 mảnh ống kẽm kích thước (16,2x12) cm. * Về án phí: Áp dụng Điều 99; điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH Bị cáo Đặng Văn L phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm và 1.000.000đ tiền án phí dân sự sơ thẩm. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án Dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án Dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự. Báo cho bị cáo, nguyên đơn dân sự, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Nguyên đơn dân sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án. Nơi nhận T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM - TAND tỉnh Bắc Giang; Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà - VKSND tỉnh Bắc Giang - VKSND huyện Yên Thế. - Công an huyện Yên Thế. - THA huyện Yên Thế. - Bị cáo. - Lưu HS. Nguyễn Ngọc Chung

Cỡ chữ