vanban.org

Bản án 35

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Trần Duy Đ phạm tội: “C ý gây thư ng tích”.

Xử ph t: Bị cáo Trần Duy Đ 01 (Một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt thi hành án. Các biện pháp tư pháp: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Bị cáo Trần Duy Đ phạm tội: “Cố ý gây thương tích” theo khoản 1 Điều 104 Bộ luật hình sự năm 1999. - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trần Duy Đ phạm tội: “C ý gây thư ng tích”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Phí và lệ phí; Điều 136 Bộ luật t tụng hình s

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

T

H

C

H

H CH

H V T M H

Đ c p - T do - H nh phúc

T H Đ B n án s : 35/2018/HSST Ngày: 19/6/2018.

NHÂN DANH

ƯỚC C

H

H CH

H V T M

T

H

H

, T H Đ

Thành phần h i đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Trí Lý.

- Các hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Tuyết và ông Nguyễn Qu c Vụ.

- Thư ký phiên tòa: Ông Y Kăn Niê – C/v: Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ea Kar.

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Ea Kar tham gia phiên tòa:

Bà Trần Thị Minh Nguyệt - Chức vụ: Kiểm sát viên.

Ngày 19/6/2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ea Kar, tỉnh Đắk Lắk, Tòa án nhân dân huyện Ea Kar mở phiên tòa xét x s th m công khai vụ án hình s thụ lý s 20/2018/HSST, ngày 15 tháng 5 năm 2018, đ i v i bị cáo:

* Họ và tên: Trần uy Đ, sinh năm: 1976. Tại huyện P, tỉnh Hưng Yên. N i đăng ký HKTT và chổ ở hiện nay: Thôn 2, xã Y, huyện K, tỉnh Đắk Lắk; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ văn hóa: 09/12; Con ông: Trần Xuân P, sinh năm: 1940 và con bà Vũ Thị D, sinh năm: 1949; Hiện đang làm nông và sinh s ng tại: Thôn 2, xã Y, huyện K, tỉnh Đắk Lắk; Vợ Nguyễn Thị H, sinh năm 1981. Bị cáo có 02 con, l n sinh năm 2001, nhỏ sinh năm 2004. Hiện cùng cư trú tại: Thôn 2, xã Y, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.Tiền án, tiền s : Không

Bị cáo hiện được tại ngoại. (có mặt tại phiên tòa).

* gười bị h i: Ông Trần Xuân P, sinh năm: 1940. Trú tại: Thôn 2, xã Y, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. Người đại diện theo ủy quyền của ông Trần Xuân P: Bà Trần Thị N, sinh năm: 1978. Trú tại: Thôn 6, xã Y, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. (có mặt)

* gười làm chứng:

1/. Ông Trần Văn T, sinh năm 1985. Trú tại: Thôn 2, xã Y, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. (Vắng mặt)

2/. Ông Trần Thanh T, sinh năm 1991. Trú tại: Thôn 2, xã Y, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. (vắng mặt)

3/. Bà Vũ Thị D, sinh năm 1949. Trú tại: Thôn 2, xã Y, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. (vắng mặt)

N I DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ s vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Kho ng 10 giờ 30 phút, ngày 07/7/2017, sau khi đi u ng rượu, Trần Duy Đ về nhà mình tại, thôn 2, xã Y, huyện K, tỉnh Đắk Lắk thì gặp ông Trần Xuân P (là b của Đ và s ng cạnh nhà). Hai bên ngồi nói chuyện v i nhau một lúc, nhưng do thấy Đ đã say rượu lại nói nhiều nên ông P b c tức nói “Mày đi ra khỏi nhà tao đi, tao không cho mày ngồi cạnh tao nữa” và bỏ đi. Thấy vậy, Trần Duy Đ đi theo và x y ra xô xát v i ông P, Đ giằng co cây gậy gỗ mà ông P dùng ch ng để đi lại, làm cây gậy gỗ đập trúng vào phía sau đầu của ông P khiến ông P ngã quỵ g i xu ng đất. Sau đó, Đ tiếp tục nhặt kho ng 2 – 3 viên gạch vỡ ném về phía ông P thì có 01 viên trúng vào đầu ông Pháo gây thư ng tích. Ông P bỏ chạy ra ngoài đường và được đưa đi s cứu vết thư ng, sau đó đến khám tại Bệnh viện đa khoa 333 và điều trị ngoại trú.

Tại b n kết luận giám định pháp y thư ng tích s 188/PY-TgT ngày 19/01/2018 của Trung tâm giám định pháp y tỉnh Đắk Lắk kết luận: Ông Trần Xuân P bị vết thư ng đầu, chấn động não, tỷ lệ thư ng tích 08%.

Vật chứng thu giữ: Đ i v i vật chứng của vụ án là viên gạch vỡ mà bị cáo s dụng ném ông P, c quan điều tra đã tiến hành xác minh truy tìm nhưng không thu giữ được.

Quá trình điều tra, ông P có đ n yêu cầu khởi t hình s đ i v i bị cáo Trần Duy Đ nhưng không yêu cầu bị cáo ph i bồi thường về trách nhiệm dân s .

Tại b n cáo trạng s 21/QĐ – VKS, ngày 14/5/2018, Viện kiểm sát nhân dân huyện EaKar, tỉnh Đắk Lắk đã truy t bị cáo Trần Duy Đ về tội “C ý gây thư ng tích” theo điểm a, d, đ, i kho n 1 Điều 104 Bộ luật hình s năm 1999.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Trần Duy Đ đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy t .

Tại phiên toà, Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea Kar sau khi đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo đã giữ nguyên quan điểm truy t bị cáo Trần Duy Đ về tội “C ý gây thư ng tích”. Đề nghị Hội đồng xét x : Áp dụng điểm a, d, đ, i kho n 1 Điều 104 Bộ luật hình s năm 1999; điểm b, i, s kho n 1 Điều 51 Bộ luật hình s năm 2015. X phạt bị cáo Trần Duy Đ từ 09 đến 12 tháng tù.

Các biện pháp tư pháp:

- Về x lý vật chứng: Không thu giữ được nên Hội đồng xét x không đề cập gi i quyết.

- Về trách nhiệm dân s : Người bị hại không yêu cầu nên không đề cập gi i quyết.

Bị cáo Trần Duy Đ đồng ý v i quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea Kar, đồng thời xin Hội đồng xét x xem xét gi m nhẹ hình phạt cho bị cáo

Đại diện theo ủy quyền của người bị hại không có ý kiến tranh luận đ i v i quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea Kar.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được th m tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết qu tranh luận tại phiên toà, trên c sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và người đại diện theo ủy quyền của người bị hại.

NHẬ ĐỊNH C A TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về t tụng:

Vụ án không thuộc trường hợp tạm đình chỉ hoặc tr hồ s để điều tra bổ sung. Trong quá trình điều tra, truy t C quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên đã th c hiện đúng th m quyền, trình t , thủ tục quy định của Bộ luật t tụng hình s . Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bị hại và những người tham gia t tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của C quan tiến hành t tụng, người tiến hành t tụng. Do đó, các hành vi, quyết định t tụng của C quan tiến hành t tụng, người tiến hành t tụng đã th c hiện đúng pháp luật.

[2] Về tội danh và điều luật áp dụng:

Tại phiên tòa bị cáo Trần Duy Đ đã khai nhận hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo phù hợp v i các chứng cứ có lưu trong hồ s vụ án. Như vậy đã có đủ c sở kết luận:

Vào kho ng 10 giờ 30 phút, ngày 07/7/2017 sau khi đi u ng rượu, bị cáo Trần Duy Đ về nhà mình thì gặp ông Trần Xuân P. Hai bên ngồi nói chuyện v i nhau một lúc, x y ra xô xát v i ông P, Đ giằng co cây gậy gỗ mà ông P dùng ch ng để đi lại làm cây gậy gỗ đập trúng vào phía sau đầu của ông P khiến ông P ngã qụy g i xu ng đất. Sau đó, bị cáo tiếp tục nhặt kho ng 2 – 3 viên gạch vỡ ném về phía ông P thì có 01 viên trúng vào đầu, gây thư ng tích 08 % sức khỏe đ i v i ông P.

Do đó, hành vi của bị cáo Trần Duy Đ đã đủ yếu t cấu thành tội “C ý gây thư ng tích”, tội danh, hình phạt được quy định tại kho n 1 điều 104 Bộ luật hình s năm 1999.

T i khoản 1 Điều 104 B lu t hình s năm 1999 quy định:

1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm:

a) Dùng hung khí nguy hiểm;

................................................

d) Đối với trẻ em, phụ nữ đang có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác

không có khả năng tự vệ;

đ) Đối với ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình;

………………………………

i) Có tính chất côn đồ;

[3] Xét tính chất, mức độ, hậu qu do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội. Bởi lẽ, bị cáo là người có đầy đủ năng l c nhận thức, năng l c điều khiển hành vi, để biết được rằng sức khỏe, tính mạng của công dân được pháp luật đặc biệt b o vệ, mọi hành vi xâm phạm đến sức khỏe, tính mạng của người khác sẽ bị pháp luật trừng trị nghiêm khắc. Tuy nhiên, v i ý thức xem thường pháp luật, thiếu tôn trọng đ i v i người sinh ra mình, nghiện rượu, không lo làm ăn, chăm sóc gia đình, phụng dưỡng cha mẹ, cùng v i b n tính côn đồ, hung hãn nên bị cáo đã th c hiện hành vi phạm tội, gây thiệt hại 08% sức khỏe đ i v i ông Trần Xuân P mặc dù trư c đó không có mâu thuẫn gì. Hành vi của bị cáo còn gây dư luận xấu về văn hóa ứng x , nh hưởng nghiêm trọng đến đạo đức trong gia đình và xã hội tại địa phư ng, gây hoang mang, bất bình trong dư luận. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea Kar truy t bị cáo về các tình tiết tại điểm a, d, đ, i kho n 1 Điều 104 Bộ luật hình s là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Do đó, Hội đồng xét x xét thấy cần x phạt bị cáo thật nghiêm, sao cho tư ng xứng v i tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo gây ra.

[4] Tuy nhiên, quá trình điều tra, tại phiên tòa bị cáo thành kh n khai báo, ăn năn h i cãi về hành vi phạm tội của mình; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; sau khi phạm tội bị cáo có chi tr 200.000 đồng tiền s cứu cho ông P. Vì vậy, Hội đồng xét x cần áp dụng các tình tiết gi m nhẹ được quy định tại điểm b, h, p kho n 1 Ðiều 46 Bộ luật hình s để xem xét trong quá trình lượng hình gi m nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Từ những phân tích, nhận định nêu trên, xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi đời s ng xã hội một thời gian nhất định, có như vậy m i đủ sức răn đe, giáo dục bị cáo để trong qúa trình c i tạo bị cáo nhận thức được hành vi sai trái của mình, từ đó hoàn thiện l i s ng để khi tái hòa nhập cộng đồng trở thành công dân s ng có ích cho gia đình và xã hội.

[5] Các biện pháp tư pháp:

- Về x lý vật chứng: Không thu giữ được, nên không đề cập gi i quyết.

- Về trách nhiệm dân s : Người bị hại không yêu cầu, nên không đề cập gi i quyết.

[6] Về án phí: Bị cáo ph i chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình s s th m.

Đ i v i việc giữa bị cáo v i người bị hại giằng co làm cây gậy gỗ được ông P s dụng tr ng để đi lại đập vào phía sau đầu, nhưng không gây ra thư ng tích nên không có c sở xem xét x lý.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Trần Duy Đ phạm tội: “C ý gây thư ng tích”.

- Áp dụng điểm a, d, đ, i kho n 1 Điều 104; điểm b, h, p kho n 1 Ðiều 46 Bộ luật hình s năm 1999.

Xử ph t: Bị cáo Trần Duy Đ 01 (Một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt thi hành án.

Các biện pháp tư pháp:

- Về x lý vật chứng: Không thu giữ được nên Hội đồng xét x không đề cập gi i quyết.

- Về trách nhiệm dân s : Người bị hại không yêu cầu nên Hội đồng xét x không đề cập gi i quyết.

- Về án phí: Áp dụng kho n 2 Điều 136 Bộ luật t tụng hình s năm 2015, Luật phí và lệ phí; Nghị quyết s 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Qu c Hội về mức thu, miễn, gi m, thu, nộp, qu n lý và s dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Trần Duy Đ ph i nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình s s th m .

Bị cáo, người bị hại được quyền kháng cáo b n án s th m trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ