vanban.org

Bản án 35

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Trần Phi Ngh phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ.

Xử phạt: Bị cáo Trần Phi Ngh 02 (hai) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 04 (bốn) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Trần Phi Ngh cho UBND xã Nhật Tân, huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trần Phi Ngh phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ÂN THI
TỈNH HƢNG YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

-----------------------
B¶n ¸n sè 35/2022/HS-ST
Ngµy 27 th¸ng 9 n¨m 2022

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ÂN THI, TỈNH HƢNG YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà : Ông Nguyễn Đồng Dực

Các Hội thẩm nhân dân : Ông Nguyễn Thanh Bình

Ông Vũ Đức Ngọc

- Thư ký phiên toà : Bà Hoàng Thị Ái- Thư ký TAND huyện Ân Thi

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên tham gia phiên toà: Ông Vũ Chí Thanh- Kiểm sát viên

Ngày 27 tháng 9 năm 2022 tại trụ sở TAND huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên. TAND huyện Ân Thi xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 33/2022/TLST-HS ngày 15/9/2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 33/2022/QĐXXST-HS ngày 16/9/2022 đối với bị cáo:

Trần Phi Ngh, sinh năm 1987; Giới tính: Nam; Nơi sinh: huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương; HKTT và nơi ở: thôn TĐ, xã NT, huyện GL, tỉnh Hải Dương; Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Chức vụ: Không. Trình độ văn hoá: 9/12. Con ông: Trần Văn Luân, sinh năm 1965 (Đã chết); con bà: Đỗ Thị Sắc, sinh năm 1967. Nghề nghiệp: Trồng trọt; vợ, con: Chưa.

Tiền án, tiền sự: Chưa có.

Bị cáo đang được áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú và Tạm hoãn xuất cảnh.

Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa

Người bị hại: Ông Trần Bá C(đã chết)

Ng êi ®¹i diÖn hîp ph¸p của ông Cường:

1. Bà Nguyễn Thị Loan, sinh năm 1962

2. Chị Trần Thị Phương, sinh năm 1981

3. Anh Trần Bá Dũng, sinh năm 1983

4. Anh Trần Bá Trung, sinh năm 1988

Đều trú tại: Ân Thi 1, Hồng Quang, Ân Thi, Hưng Yên

5. Chị Trần Thị Thảo, sinh năm 1984

Trú tại: Cẩm Ninh, Ân Thi, Hưng Yên

Bà Loan, chị Thảo, chị Phương, anh Trung ủy quyền cho: Anh Trần Bá Dũng, sinh năm 1983; trú tại: Ân Thi 1, Hồng Quang, Ân Thi, Hưng Yên (có mặt)

- Người làm chứng: Anh Mai Thanh Hải, sinh năm 2003 (vắng mặt)

Trú tại: Thôn Kim Trang, xã Lam Sơn, huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 09 giờ ngày 31/5/2022, Nghĩa điều khiển xe ô tô nhãn hiệu SUZUKI ERTIGAGLX4AT ANC22S loại 07 chỗ ngồi, màu trắng, biển số 34A – 546.41đi trên đường TL 386 theo hướng xã Đa Lộc đi thị trấn Ân Thi, huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên, đi cùng trên xe Nghĩa có anh Mai Thanh Hải sinh năm 2003 ở thôn Kim Trang, xã Lam Sơn, huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương (hiện đang đóng quân tại Lữ đoàn 167 thôn 2, xã Long Sơn, thành phố Vũng Tầu, tỉnh Bà Rịa Vũng Tầu) ngồi ở hàng ghế sau; đến khoảng 09 giờ 40 phút cùng ngày, Nghĩa điều khiển xe đi đến gần khu vực vòng xuyến ngã tư giao nhau giữa đường TL 386 với đường TL 376 thuộc địa phận thôn Bình Trì, thị trấn Ân Thi, huyện Ân Thi quan sát thấy bên phải đường theo hướng di chuyển ở lề đường có cắm biển báo giao thông giao nhau theo vòng xuyến (biển W206) và biển chỉ dẫn đường, nên giảm tốc độ xuống còn khoảng 40km/h, khi Nghĩa điều khiển xe ô tô đi đến điểm đầu tam giác đảo phân hướng đi vào vòng xuyến quan sát thấy bên trái đường theo hướng di chuyển trên đường TL 376 giao nhau với vòng xuyến với đường TL 386 có xe ô tô con loại 5 chỗ ngồi màu đỏ không rõ biển số và người điều khiển đang di chuyển đến đầu tam giác đảo phân hướng đi vào vòng xuyến theo hướng từ xã Hồng Quang, huyện Ân Thi đi xã Quang Vinh, huyện Ân Thi (Quốc lộ 38), phía sau xe ô tô này có chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA – AIRBLADE mầu đỏ - đen, biển số 89C1 – 057.27 do ông Trần Bá Csinh năm 1956 ở thôn Ân Thi 1, xã Hồng Quang, huyện Ân Thi điều khiển đi cùng chiều với xe ô tô con màu đỏ cũng đang đi thẳng vào vòng xuyến, nhưng Nghĩa không giảm tốc độ để nhường đường cho xe đi từ bên trái tại nơi đường giao nhau có biển báo đi theo vòng xuyến, mà tiếp tục điều khiển xe và bật đèn xinh nhan bên phải đi vào vòng xuyến chuyển hướng ra đường TL 376 về hướng xã Quang Vinh nên đã xảy ra tai nạn, phần cạnh ngoài bên trái đầu xe và phần cánh cửa trước bên trái xe ô tô Nghĩa điều khiển va vào đầu ngoài tay lái bên phải và đầu ngoài tay phanh bên phải xe mô tô ông Cường điều khiển làm xe mô tô đổ nghiêng bên phải xuống mặt đường và rê trên mặt đường TL 376 về phía xã Quang Vinh rồi va vào cạnh tam giác đảo phân hướng đi theo vòng xuyến bên trái theo hướng di chuyển làm đầu xe mô tô quay ngược lại về phía xã Hồng Quang, ông Cường bị ngã văng ra mặt đường bị thương chảy máu, còn xe ô tô Nghĩa điều khiển tiếp tục đi về phía xã Quang Vinh trên đường TL 376 khoảng 40m thì dừng lại sát lề đường bên phải. Hậu quả: Ông Cường bị thương được Nghĩa và một số người đưa đi cấp cứu, nhưng do vết thương nặng trên đường đưa đi cấp cứu thì ông Cường chết, xe ô tô và mô tô bị hư hỏng nhẹ.

Tại biên bản khám nghiệm hiện trường xác định:

Nơi xảy ra tai nạn là khu vực ngã tư vòng xuyến giao nhau giữa đường TL 376 và đường TL 386 thuộc Km 18 + 800 đường TL 376 địa phận thôn Bình Trì, thị trấn Ân Thi, huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên. Tại đường TL 376 tính từ vòng xuyến, phía nam là hướng đi xã Hồng Quang, phía bắc là hướng đi xã Quang Vinh. Tại đường TL 386 tính từ vòng xuyến, phía đông là hướng đi xã Đa Lộc, phía tây là hướng đi thôn Bình Trì, thị trấn Ân Thi. Mặt đường nơi xảy ra tai nạn được trải áp phan bằng thẳng, các hướng đi đến vòng xuyến đều là đoạn đường thẳng không có gì che khuất ảnh hưởng đến tầm nhìn của mọi người tham gia giao thông. Tại các hướng trước khi đi vào vòng xuyến đều có cắm biển báo giao nhau đi theo vòng xuyến (biển W206). Cách biển báo W206 là 33,7m về hướng vòng xuyến là đầu cụm vạch gờ giảm tốc thứ nhất có 05 gờ nổi sơn màu trắng, mỗi gờ có độ rộng 0,2m và khoảng cách giữa các gờ là 0,38m. Cách đầu cụm gờ giảm tốc thứ nhất 36,6m về hướng vòng xuyến là đầu cụm gờ giảm tốc thứ 2 có 07 gờ nổi sơn màu trắng, mỗi gờ có độ rộng 0,2m và khoảng cách giữa các gờ là 0,38m. Cách đầu cụm gờ giảm tốc thứ 2 là 32,5m là phần đỉnh tam giác của đảo phân chia lối đi cho các phương tiện tham gia giao thông. Vòng xuyến được bố trí vòng tròn trung tâm có đường kính 30m, cao 0,35m so với mặt đường, xung quanh vòng tròn trung tâm là các đảo phân hướng đi hình tam giác phân biệt ở 4 hướng dành cho các phương tiện ra vào vòng xuyến, khoảng cách từ vòng tròn trung tâm đến các đảo là 15m, các đảo đều có kích thước cạnh đáy 12m, hai cạnh bên là 31,5m và cao so với mặt đường 0,3m. Ngoài ra tại hướng đi từ xã Quang Vinh đi thôn Bình Trì, thị trấn Ân Thi và hướng đi từ xã Hồng Quang đi xã Đa Lộc còn có 02 đảo phụ hình tam giác đều có kích thước cạnh đáy 23,7m, hai cạnh bên là 21m và cao so với mặt đường 0,3m để phân hướng đi các phương tiện đi từ xã Quang Vinh đi thôn Bình Trì, thị trấn Ân Thi và từ xã Hồng Quang đi xã Đa Lộc. Vòng xuyến trung tâm được kẻ 03 vòng tròn sơn màu trắng trên mặt đường để chỉ dẫn các phương tiện di chuyển.

Vị trí xảy ra tai nạn thuộc trung tâm vòng xuyến gần với lối ra hướng đi xã Quang Vinh có độ rộng tính từ đầu ngoài đảo phân hướng đi đến mép đường bên phải là 10,8m, cuối lối ra có độ rộng tính từ mép ngoài đảo phân hướng đi đến mép đường bên phải là 7,8m, tại lối ra có sơn hình mũi tên màu trắng chỉ hướng đi xã Quang Vinh. Thống nhất lấy hướng khám nghiệm là hướng đi từ xã Hồng Quang đi xã Quang Vinh làm hướng chuẩn khám nghiệm, lấy mép đường bên phải theo hướng khám nghiệm làm mép chuẩn, lấy cột mốc H8/18 (ký hiệu Đ) bên trái đường theo hướng khám nghiệm làm điểm cố định.

Hiện trường để lại: Vết cà xước mặt đường thứ nhất (ký hiệu C1) có kích thước (0,4 x 0,002)m, có chiều theo hướng khám nghiệm, đo từ đầu (C1) vào mép chuẩn 3,9m và cách vạch sơm vòng tròn thứ 3 trung tâm là 5m, cách điểm đầu gần nhất của cạnh đáy đảo phân hướng từ xã Đa Lộc đi vào vòng xuyến là 46,3m, cách điểm đầu gần nhất cạnh của cạnh đáy đảo phân hướng từ xã Hồng Quang đi vào vòng xuyến là 60m; cuối (C1) vào mếp chuẩn 4m.

Cách cuối (C1) 7,05m theo hướng khám nghiệm là đầu vết cà xước thứ 2 (ký hiệu C2) có kích thước (1,9 x 0,02)m có chiều hướng theo chiều khám nghiệm và có chiều đi vào đảo phân hướng đi, (C2) có một phần nằm trên vạch sơn hình mũi tên sơn màu trắng trên mặt đường; đo từ đầu (C2) vào mép chuẩn 4,66m, cuối (C2) vào mép chuẩn 5m.

Cách cuối (C2) 0,8m theo hướng khám nghiệm là đầu vết cà xước mặt đường thứ 3 (ký hiệu C3) có kích thước (1 x 0,03)m có chiều theo hướng khám nghiệm và nằm trên hình mũi tên sơm màu trắng trên mặt đường, đo từ đầu (C3) vào mép chuẩn 4,2m, cuối (C3) vào mép chuẩn 4,4m.

Cách cuối (C3) 1,5m theo hướng khám nghiệm là đầu vết cà xước mặt đường thứ 4 (ký hiệu C4) có kích thước (16,9 x 0,06)m có chiều theo hướng khám nghiệm, đo từ đầu (C4) vào mép chuẩn 5,7m, cuối (C4) trùng với giá để chân bên phải xe mô tô biển số 89C1 – 057.27 (ký hiệu X1) và vào mép chuẩn 6,85m.

Cách đầu (C4) 3,5m là vết máu (ký hiệu M) có kích thước (0,5 x 0,3)m, đo từ tâm (M) vào mép chuẩn 5,2m.

Cuối (C4) trùng với xe mô tô (X1) đổ nghiêng bên phải xuống mặt đường, đầu xe quay hướng xã Hồng Quang, đuôi xe quay hướng xã Quang Vinh, đo từ tâm trục bánh trước (X1) vào mép chuẩn 6,85m, tâm trục bánh sau (X1) vào mép chuẩn 6,75m và cách điểm cố định (Đ) là 61,5m.

Cách tâm trục bánh sau (X1) 30,6m theo hướng khám nghiệm là tâm trục bánh sau bên trái xe ô tô biển số 34A – 546.41 (ký hiệu X2) đỗ sát mép đường đầu xe quay hướng xã Quang Vinh, đuôi xe quay hướng xã Hồng Quang, đo từ tâm trục bánh sau bên trái và bánh trước bên trái (X2) vào mép chuẩn 2,5m; tâm trục bánh trước bên trái (X2) cách điểm cố định (Đ) 29m.

Mở rộng hiện trường: Đầu lối thoát hướng từ xã Đa Lộc đi đến phần giáp với vòng xuyến trung tâm có độ rộng tính từ đầu ngoài đảo phân hướng đi đến mép đường bên phải là 11,6m, cuối lối thoát có độ rộng tính từ mép ngoài đảo phân hướng đi đến mép đường bên phải là 8,2m. Đầu lối thoát hướng từ xã Hồng Quang đi đến, phần giáp với vòng xuyến trung tâm có độ rộng tính từ đầu ngoài đảo phân hướng đến đầu ngoài đảo phụ phân hướng đi xã Đa Lộc là 10,2m, cuối lối thoát có độ rộng tính từ mép ngoài đảo phân hướng đi đến mép đường bên phải là 9,5m.

Tại biên bản khám nghiệm tử thi Trần Bá Cường, xác định:

Vùng đầu, mặt, cổ: Tử thi hai mắt nhắm, kết mặc măt hai bên xung huyết, nhãn cầu mắt trái tụ máu. Hai lỗ mũi có máu khô. Ống tai ngoài bên phải có máu. Miệng ngậm, lưỡi nằm trong cung răng, khoang miệng không có máu, kiểm tra hệ thống răng không tổn thương. Vùng trán bên phải cách đường giữa 6cm, sát đường chân tóc trái có đám sây sát da kích thước (2 x 2)cm; vùng trán, mắt bên phải cách đường chân tóc trán 6cm, cách đường giữa 1cm có đám sây sát da bầm tím kích thước (7 x 6)cm; vùng trán, mắt bên trái cách đường chân tóc trán 4cm, cách đường giữa 1cm có đám sây sát da bầm tím kích thước (9 x 7)cm; vùng chính mũi hai bên nằm trên đường giữa cách đường chân tóc trán 10cm có đám sây sát da bầm tím kích thước (5 x 4)cm. Vùng má, cằm bên trái cách đường giữa 3cm sát dái tai trái có đám sây sát da bầm tím kích thước (14 x 11)cm; vùng đỉnh thái dương bên phải cách đường đường giữa 4cm, sát đường chân tóc trán có đám sây sát da, rách da, bầm tím kích thước (14 x 11)cm, trên đám này tại vị trí vùng thái dương bên phải cách đường giữa 6cm, cách đường chân tóc trán 5cm có đám rách toác da sâu, bờ mép nham nhở làm lộ tổ chức xương hộp sọ kích thước (7 x 2)cm.

Vùng ngực bụng: Vùng ngực, bụng bên trái cách đường giữa 10cm, cách mào chậu trái 12cm có đám sây sát da bầm tím kích thước (9 x 6)cm.

Hai tay: Mu bàn tay phải có đám sây sát da bầm tím kích thước (10 x 9)cm; cổ tay, mu bàn tay trái có đám sây sát da bầm tím kích thước (15 x 9)cm.

Hai chân: Mặt trước gối phải có đám sây sát da bầm tím kích thước (8 x 3)cm; mặt trước ngoài đoạn 1/3 trên cẳng chân phải có đám sây sát da bầm tím kích thước (10 x 8)cm; mắt cá ngoài mu bàn chân phải có đám sây sát da bầm tím kích thước (12 x 4)cm; mặt trước gối trái, 1/3 trên cẳng chân trái có đám sây sát da bầm tím kích thước (17 x 7)cm.

Mổ vùng đỉnh thái dương phải qua vết thương thấy tổ chức dưới da, cơ bầm tụ máu lứt vỡ xương hộp sọ kích thước (2 x 0,2)cm, máu chảy nhiều qua khe vỡ.

Ngoài ra không còn dấu vết gì.

Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 84/KL – KTHS (GĐPY) ngày 07/6/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hưng Yên, kết luận: Ông Trần Bá Ckhám nghiệm ngày 31/5/2022 chết là do: Chấn thương sọ não, vỡ xương hộp sọ.

Tại biên bản khám nghiệm xe ô tô biển số 34A – 546.41, xác định:

Mặt ngoài lốp xe bánh trước bên trái có vết mài xước cao su không rõ chiều tác động, kích thước (36 x 6)cm, điểm đầu cách chân van 22cm, điểm cuối cách chân van 41cm, vết mài xước nằm trên dòng chữ Outsidf Michelin Green. Tại sườn bên trái đầu xe có vết trượt sơn kích thước (6 x, 0,2)cm, tâm vết này cách mặt đất 67cm và cách mép trước cánh cửa bên trái phía trước 48cm. Sườn xe bên trái đầu xe có vết lõn kích thước (31 x 6)cm, điểm đầu vết lõn cách mặt đất 93cm và cách mép trước cánh cửa bên trái phía trước 39,5cm. Sườn đầu xe bên trái và cánh cửa bên trái phía trước có vết trượt dài kích thước (56,5 x 0,2)cm có bám dính dị vật màu đen, điểm đầu cách mặt đất 99cm và cách mép cánh cửa bên trái phía trước 12cm, điểm cuối cách mặt đất 91cm và cách mép cửa bên trái phía trước 43cm. Phần trên thanh nẹp Crôm của cánh cửa xe bên trái phía trước có vết trượt kích trước (9,5 x 0,1)cm, đầu vết trượt cách mép cửa phía trước bên trái 1cm và cách mặt đất 9cm, điểm cuối vết trượt cách mặt đất 9,5cm. Cánh cửa bên trái phía trước và cánh cửa sau bên trái có dính vết màu đỏ kích thước (46 x 3)cm, đầu vết cách mặt đất 72cm và cách mép cửa (mép trước) 27,5cm, cuối vết cách mặt đất 71,5cm và cách mép cửa (mép sau) 40cm. Phần tem màu đỏ của cánh cửa trước và cửa sau bên trái có vết trượt xước kích thước (83 x 10)cm, điểm đầu cách mặt đất 35cm, điểm cuối cách mặt đất 50cm. Mặt trước phần ốp gương chiếu hậu bên trái có vết trượt kích thước (8,5 x 2)cm. Ngoài ra không còn dấu vết gì.

Tại biên bản khám nghiệm xe mô tô biển số 89C1 – 057.27, xác định:

Đầu ngoài phía trước tay nắm bên phải có vết mài xước kim loại kích thước (0,7 x 0,4)cm không rõ chiều tác động, tâm vết mài xước cách mặt đất 103cm. Mặt trước đầu ngoài tay phanh bên phải có vết mài xước kim loại kích thước (1 x 1)cm. Ốp nhựa gương chiếu hậu bên phải (mặt trước) có vết mài xước nhựa kích thước (5 x 2)cm. Phần cách yếm phía trên bên phải có vết mài xước nhựa kích thước (2 x 0,2)cm, tâm vết mài xước cách mặt đất 83cm, không xác định được chiều tác động. Phần cánh yếm phía dưới bên phải bung rời khỏi vị trí ban đầu, toàn bộ mặt ngoài cánh yếm có đám mài xước kích thước (43 x 19)cm không rõ chiều tác động. Cạnh ngoài để chân bên phải người lái có vết mài xước nhựa kích thước (32 x 25)cm chiều tác động từ dưới lên trên. Toàn bộ ốp ống xả bằng kim loại có vết mài xước kích thước (46 x 8)cm không rõ chiều tác động, có dính dị vật màu trắng, đỏ. Mặt ngoài ốp nhựa đèn xi nhan bên phải có vết mài xước nhựa kích thước (5 x 4)cm, có dính dị vật màu đen, đỏ. Mặt ngoài bên phải quai xách xe có vết mài xước kim loại kích thước (10 x 0,1)cm, điểm thấp nhất cách mặt đất 79,3cm, điểm cao nhất cách mặt đất 82,5cm. Ngoài ra không còn dấu vết gì.

Kết luận giám định số 137/KL – KTHS ngày 12/6/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hưng Yên, kết luận: Dấu vết trượt xước, bám chất màu đen mặt ngoài ốp chắn bánh trước bên trái và cửa trước bên trái xe ô tô biển số 34A – 546.41 phù hợp với dấu vết trượt xước kim loại mất lớp sơn màu đen mặt ngoài đầu tay lái bên phải xe mô tô biển số 89C1 – 057.27 (ảnh 10 trong bản ảnh giám định). Dấu vết trượt xước, lõm kim loại mặt ngoài ốp chắn bánh trước bên trái và cửa xe bên trái xe ô tô biển số 34A – 546.41 phù hợp với dấu vết trượt xước kim loại đầu tay phanh bên phải xe mô tô biển số 89C1 – 057.27 (ảnh 11 trong bản ảnh giám định). Dấu vết trượt xước, bám chất màu đỏ mặt ngoài cửa sau bên trái xe ô tô biển số 34A – 546.41 phù hợp với dấu vết trượt xước mất sơn màu đỏ mặt ngoài cạnh bên phải khung tay nâng sau yên xe mô tô biển số 89C1 – 057.27 (ảnh 12 trong bản ảnh giám định). Kèm theo kết luận giám định gồm 01 bản ảnh dài 11 tờ giấy A4.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận giám định nêu trên.

Tại bản cáo trạng số 32/CT-VKS-AT ngày 14/9/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ân Thi đã truy tố Trần Phi Ngh về tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ân Thi vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị HĐXX:

Tuyên bố: Trần Phi Ngh phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

Áp dụng: Điểm a khoản 1 Điều 260, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Trần Phi Ngh từ 01 năm 06 tháng tù đến 02 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 03 năm đến 04 năm, tính từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo cho UBND xã Nhật Tân, huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo

Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra giải quyết.

Về vật chứng: Trả lại bị cáo 01 giấy phép lái xe hạng B2 số 330152016733 mang tên Trần Phi Ngh quản lý tại hồ sơ do không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về án phí : Bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật

Tại phiên tòa:

Anh Dũng là đại diện hợp pháp của bị hại trình bày: Việc bị cáo điều khiển xe ô tô đâm vào xe máy do ông Cường điều khiển dẫn đến ông Cường tử vong là ngoài mong muốn, sau khi ông Cường chết thì bị cáo và gia đình bị cáo đã hỏi thăm, động viên và bồi thường cho gia đình anh tổng số tiền 160.000.000 đồng, đến nay anh và gia đình không có yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì. Còn về hình phạt anh đề nghị HĐXX cho bị cáo được hưởng án treo.

Bị cáo nói lời sau cùng: Viện kiểm sát nhân dân huyện Ân Thi truy tố bị cáo là đúng, bị cáo không có ý kiến gì. Tuy nhiên sau khi gây tai nạn bản thân bị cáo đã tích cực và tác động đến gia đình để hỏi thăm, bồi thường cho gia đình bị hại, gia đình bị hại đã có dơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo và tại phiên tòa anh Dũng (con trai của ông Cường) xin cho bị cáo cải tạo tại địa phương, bị cáo trước khi xảy ra tai nạn luôn chấp hành tốt đường lối chủ trương và pháp luật của nhà nước, vì vậy đề nghị HĐXX cho bị cáo được cải tạo tại địa phương.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Ân Thi, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ân Thi, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Nội dung vụ án: Tại phiên toà hôm nay, bị cáo Trần Phi Ngh đã thành khẩn khai nhận về toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại CQĐT; biên bản khám nghiệm hiện trường vụ án, bản ảnh (bút lục số 45, 52, 58 đến 150 ); biên bản khám nghiệm xe (bút lục số 47, 48, 49, 50), kết luận giám định, khám nghiệm tử thi cùng các vật chứng mà cơ quan CSĐT đã thu giữ. Như vậy có đủ cơ sở khẳng định: Khoảng 09 giờ 40 phút ngày 31/5/2022, Trần Phi Ngh có giấy phép lái xe hợp lệ, điều khiển xe ô tô nhãn hiệu SUZUKI ERTIGAGLX4AT ANC22S loại 7 chỗ ngồi, biển số 34A – 546.41 đi trên đường TL 386 theo hướng xã Đa Lộc, huyện Ân Thi đi thị trấn Ân Thi, huyện Ân Thi, khi đi đến vòng xuyến ngã tư giao nhau giữa đường TL 386 với đường TL 376 thuộc Km 18 + 800 địa phận thôn Bình Trì, thị trấn Ân Thi, huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên, do Nghĩa điều khiển xe ô tô khi đi vào vòng xuyến để rẽ phải đi vào đường TL 376 về hướng xã Quang Vinh, huyện Ân Thi nhưng không giữ khoảng cách an toàn, không làm chủ tốc độ và không giảm tốc độ để nhường đường cho xe mô tô nhãn hiệu HONDA – AIRBLADE biển số 89C1 – 057.27 do ông Trần Bá Cđang đi trên đường TL 376 theo hướng xã Hồng Quang đi xã Quang Vinh vào vòng xuyến (phía bên trái xe ô tô Nghĩa điều khiển), nên gây tai nạn phần cạnh ngoài bên trái đầu xe và phần cánh cửa trước bên trái xe ô tô Nghĩa điều khiển va vào đầu ngoài tay lái bên phải và đầu ngoài tay phanh bên phải xe mô tô ông Cường điều khiển. Hậu quả: Ông Cường bị chấn thương sọ não, vỡ xương hộp sọ trên đường đưa đi cấp cứu thì bị chết; xe ô tô và xe mô tô bị hư hỏng nhẹ.

Hành vi nêu trên của Trần Phi Ngh là nguy hiểm cho xã hội không những xâm phạm tới tính mạng, sức khỏe của người khác tức là quyền công dân được pháp luật bảo vệ mà còn xâm phạm tới những quy định về an toàn giao thông đường bộ cụ thể hành vi của bị cáo điều khiển xe ô tô không chấp hành hệ thống báo hiệu đường bộ, không giữ khoảng cách an toàn, không làm chủ được tốc độ và không nhường đường cho xe đi bên trái tại nơi đường giao nhau có báo hiệu đi theo vòng xuyến đã vi phạm khoản 1 Điều 9; khoản 2 điều 24 Luật giao thông đường bộ gây tai nạn hậu quả nghiêm trọng làm chết 01 người. Trong khi nhà nước ta đang có những biện pháp nhằm giảm thiểu tai nạn giao thông đường bộ nhưng bị cáo không tuân thủ dẫn đến hậu quả đáng tiếc xảy ra làm ông Cường tử vong. Do đó, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 BLHS. Vì vậy, VKSND huyện Ân Thi truy tố bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.

Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng TNHS nào. Sau khi xảy ra tai nạn, bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình và tỏ rõ sự ăn năn hối hận, sau khi phạm tội bị cáo đã tích cực bồi thường, thăm hỏi gia đình bị hại nên bị cáo được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ TNHS quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 BLHS. Quá trình điều tra bị cáo đã được đại diện gia đình ông Cường đã có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự và tại phiên tòa đại diện gia đình bị hại xin cho bị cáo được cải tạo tại địa phương, bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, có đơn đề nghị và xin cải tạo tại địa phương được chính quyền địa phương xác nhận và đề nghị nên bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS.

Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự và bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ TNHS quy định tại khoản 1 và khoản 2 điều 51, có nơi cư trú rõ ràng, chấp hành tốt chủ trương chính sách, pháp luật của Nhà nước. Do vậy không cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà chỉ cần áp dụng hình phạt tù có điều kiện cho bị cáo cải tạo tại địa phương cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội và cũng thể hiện chính sách nhân đạo trong pháp luật hình sự của Nhà nước ta.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng:

Quá trình điều tra xác định: Chiếc xe ô tô biển số 34A - 546.41 là tài sản của bị cáo Nghĩa, hiện chiếc xe này Nghĩa đang thế chấp vay vốn tại Ngân hàng TMCP Quốc tế VIB - Chi nhánh Thái Bình theo hợp đồng thế chấp số 052.HĐTC1.044.22 ngày 22/02/2022; ngày 09/8/2022 Ngân hàng TMCP Quốc tế VIB – Chi nhánh Thái Bình ủy quyền cho bị cáo Nghĩa giải quyết vụ việc, nhưng không bao gồm quyền định đoạt, mua bán, sang tên, chuyển nhượng, cầm cố tài sản. Ngày 10/8/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Ân Thi đã trao trả cho bị cáo Nghĩa là đúng quy định của pháp luật nên không đặt ra giải quyết.

Đối với chiếc xe mô tô biển số 89C1 – 057.27 là tài sản của ông Trần Bá Cường, gia đình ông Cường từ chối định giá thiệt hại đối với chiếc xe mô tô do tai nạn gây ra. Ngày 10/8/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Ân Thi đã trả cho gia đình ông Cường (đại diện là anh Dũng đã nhận), tại phiên tòa anh Dũng không có yêu cầu đề nghị gì.

Đối với 01 giấy phép lái xe hạng B2 số 330152016733 mang tên Trần Phi Ngh quản lý tại hồ sơ vụ án do không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo nên trả lại bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Sau khi sự việc xảy ra, bị cáo Trần Phi Ngh đã đến thăm hỏi và khắc phục bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 160.000.000 đồng. Gia đình ông Cường đã nhận đủ số tiền trên và không yêu cầu bị cáo Nghĩa phải bồi thường gì thêm nên không đặt ra giải quyết.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2, 5 Điều 65 BLHS; Khoản 2 điều 136 BLTTHS; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Tuyên bố: Bị cáo Trần Phi Ngh phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ.

2. Xử phạt: Bị cáo Trần Phi Ngh 02 (hai) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 04 (bốn) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Trần Phi Ngh cho UBND xã Nhật Tân, huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

3. Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

4. Về vật chứng: Trả lại bị cáo Nghĩa 01 giấy phép lái xe hạng B2 số 330152016733 mang tên Trần Phi Ngh.

5.Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra giải quyết

6. Về án phí: Bị cáo Nghĩa phải chịu 200.000đ án phí sơ thẩm hình sự.

7. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, anh Dũng có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ