- Tranh chấp gì? Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về danh dự, nhân phẩm, uy tín — án dân sự — "Tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng ông L và ông S"
- Tòa quyết gì? Chấp chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| B¶n ¸n sè: 35/2026/DS-ST Ngµy 15-6-2026 V/v Yêu cầu bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng và bồi thường danh dự bị xâm phạm nh©n danh n íc céng hoµ x· héi chñ nghÜa viÖt nam |
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - HẢI PHÒNG
- Thµnh phÇn Héi ®ång xÐt xö s¬ thÈm gåm cã:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Tuấn Anh.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Trần Thị Nhạn;
Bà Trương Thị An.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Hồng Phương - Thư ký Tòa án nhân khu vực 2 - Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Phạm Đình Hiến - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 6 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2 - Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 363/2025/TLST-DS, ngày 12 tháng 11 năm 2025 về việc “Yêu cầu bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng và bồi thường danh dự bị xâm phạm” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 48/2026/QĐXXST-DS ngày 12 tháng 5 năm 2026 và quyết định hoãn phiên tòa số 52/2026/QĐST-DS ngày 27 tháng 5 năm 2026, Thông báo về việc thay đổi thời gian mở phiên tòa số 895/TB-TA ngày 02/6/2026, giữa:
- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn L, sinh năm 1976, CCCD số: xxxxxxxxxxxx; địa chỉ: Số F Đ, phường P, thành phố Hải Phòng, có mặt.
- Bị đơn: Anh Bùi Văn S, sinh năm 1978, CCCD số: xxxxxxxxxxxx; trú tại: Thôn Q, xã A, thành phố Hải Phòng, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 08 tháng 10 năm 2025 và các lời khai tại Tòa án nguyên đơn là anh Nguyễn Văn L trình bày:
Thông qua mạng xã hội Facebook, anh Bùi Văn S đã có những lời lẽ vu khống anh Nguyễn Văn L có hành vi cướp tiền đồng thời xúc phạm anh L và con trai là cháu Nguyễn Trung H bị thiều năng trí tuệ do anh L từng phục vụ trong Quân đội tại vùng có chất độc tại Sân bay B. Anh S bịa đặt, tung tin không đúng sự thật về nghề sửa xe máy của anh L gây ảnh hưởng đến uy tín quán sửa chữa xe máy của anh L. Sự việc đó đã trực tiếp gây thiệt hại đến thu nhập của gia đình anh L trong thời gian dài. Với những thông tin trên mạng xã hội vu khống, xuyên tạc nói trên đã làm mất thu nhập của quán sửa xe, cụ thể như sau: Tiền bị mất thu nhập do bị vu khống dẫn đến không có khách hàng đến sửa chữa xe máy tại quán là 5 tháng, mỗi tháng mất thu nhập 24.000.000 đồng, tổng cộng là 120.000.000 đồng. Do bị vu khống dẫn đến tổn thương tinh thần gia đình anh L tạm tính 30.000.000 đồng. Vì những hành vi trên nên ngày 24/9/2025, Công an phường K đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với anh Bùi Văn S về hành vi: "Cung cấp, chia sẻ thông tin giả mạo, thông tin sai sự thật, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của cơ quan, tổ chức, danh dự nhân phâm của cá nhân" với số tiền 5.000.000 đồng. Do đó, anh L làm đơn khởi kiện đề nghị Tòa án nhân dân khu vực 2 - Hải Phòng buộc anh Bùi Văn S phải có trách nhiệm bồi thường cho anh L Tiền số tiền thiệt hại do thu nhập bị mất của quán sửa chữa xe máy 5 tháng là 120.000.000đ và số tiền tổn thất tinh thần gia đình anh L là 30.000.000đ, tổng cộng là 150.000.000đ.
Quá trình giải quyết vụ án anh L khai thêm: Ngày 13/5/2025, anh S có một lần duy nhất mang chiếc xe Jupiter cũ đến cửa hàng của anh L tại địa chỉ: C L, phường K, thành phố Hải Phòng sửa chữa, chi phí hết 2.830.000đ. Sau đó, anh S có quay lại quán nói đầu xe hơi nặng và đề nghị anh L xem lại nhưng sau đó không mang xe tới. Đến ngày 17/5/2025, anh S đăng thông tin kèm ảnh lên trang facebook nhóm "Anh chị em Kiến An" vu khống, xuyên tạc quán sửa xe của anh L và xúc phạm đến con trai anh L. Sự việc đã được Công an phường K ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 02/QĐ-XPHC. Tuy nhiên, việc kinh doanh của quán sửa chữa xe của anh L bị ảnh hưởng đến 5 tháng sau đó. Sau vụ việc quán sửa xe của anh L mới lắp camera an ninh và không lưu trữ hình ảnh sự việc. Khi sửa xe cho khách anh L chỉ viết 1 phiếu có ghi nội dung số linh kiện sửa chữa, thay thế và tính tiền công, anh L không lưu phiếu và không lưu sổ sách của quán vì quán nhỏ nên không phải nộp thuế. Việc anh L yêu cầu anh S bồi thường 5 tháng thu nhập là tính trên thu nhập thực tế của quán bị mất, còn số tiền yêu cầu bồi thường tổn thất tinh thần là anh căn cứ vào lương tâm trách nhiệm của một người cha cần phải bảo vệ con mình để yêu cầu nên anh đề nghị Tòa án căn cứ quy định pháp luật và xem xét.
Bị đơn anh Bùi Văn S đã được Tòa án tống đạt Thông báo thụ lý vụ án và nhiều lần tống đạt Giấy triệu tập hợp lệ để đến Tòa án giải quyết vụ án, nhưng đều vắng mặt, không có lý do nên không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Các tài liệu, chứng cứ Toà án thu thập được trong quá trình giải quyết vụ án các đương sự đã được tiếp cận công khai và không có ý kiến gì:
- Hợp đồng thuê quán sửa chữa xe máy ngày 10/7/2023 của anh Nguyễn Văn L;
- Biên bản làm việc ngày 19/9/2025 của Công an phường K và anh Bùi Văn S.
- Biên bản làm việc ngày 19/9/2025 của Công an phường K và anh Bùi Văn S về nội dung: Tiến hành kiểm tra, giải trình điện thoại.
- Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 02/QĐ-XPHC ngày 24/9/2025.
- Biên bản vi phạm hành chính về lĩnh vực công nghệ thông tin số 01/BB-VPHC ngày 22/9/2025.
- Thông báo xử phạt vi phạm hành chính số 01/TB-XPHC ngày 25/9/2025.
- Biên lai thu phạt vi phạm hành chính số 2977343 ngày 26/9/2025.
- Sổ hạch toán chi tiết của tài khoản Nguyễn Văn L từ 01/01/2025 đến 31/5/2025 và từ 01/8/2025 đến 20/12/2025.
- Tại phiên tòa đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 2 - Hải Phòng phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật: Trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến khi xét xử của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã đảm bảo đúng quy định của pháp luật. Nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa đã cơ bản thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật theo quy định tại các điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa đã không thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật theo quy định tại các điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 91, Điều 92, Điều 93, Điều 96 và Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 34, 584, 585, 586, 588 và 592 Bộ luật Dân sự; Điều 9 Nghị Quyết số 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06/9/2022; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Q, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Buộc anh Bùi Văn S phải bồi thường cho anh Nguyễn Văn L các khoản sau: Thiệt hại ngoài hợp đồng là thu nhập thực tế bị ảnh hưởng của quán sửa chữa xe máy trong 5 tháng là 65.912.000đ và bồi thường danh dự, tổn thất tinh thần gia đình anh L là 4.680.000đ, tổng cộng là: 70.592.000đ. Về án phí: Các đương sự phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Qua các tài liệu của vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thẩm quyền: Quan hệ tranh chấp trong vụ án được xác định là tranh chấp yêu cầu bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng và bồi thường danh dự bị xâm phạm thuộc tranh chấp dân sự, bị đơn anh Bùi Văn S, sinh năm 1978, CCCD số: xxxxxxxxxxxx; trú tại: Thôn Q, xã A, thành phố Hải Phòng nên theo quy định tại Điều 26, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, thì thẩm quyền giải quyết tranh chấp thuộc Tòa án nhân dân khu vực 2 - Hải Phòng.
Về sự vắng mặt của bị đơn: Bị đơn vắng mặt, không có lý do, đã được triệu tập hợp lệ. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Ngày 13/5/2025, anh S có mang chiếc xe Jupiter cũ đến của hàng của anh L tại địa chỉ: C L, phường K, thành phố Hải Phòng sửa chữa, chi phí hết 2.830.000đ. Đến ngày 17/5/2025, anh S đăng thông tin kèm ảnh lên trang facebook trong nhóm "Anh chị em Kiến An" có nội dung sai sự thật về quán sửa xe của anh L và con trai anh L là có thật. Sự việc đã được Công an phường K giải quyết và ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số số 02/QĐ-XPHC ngày 24/9/2025 đối với anh Bùi Văn S về việc đăng các thông tin sai sự thật trên mạng xã hội với mức phạt 5.000.000đ. Anh Bùi Văn S đã chấp hành nộp phạt 5.000.000đ theo Biên lai thu phạt vi phạm hành chính số 2977343 ngày 26/9/2025. Như vậy, có thể khẳng định anh Bùi Văn S đăng các thông tin sai sự thật trên mạng xã hội là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến hậu quả doanh thu của quán sửa chữa xe máy tại địa chỉ: C L, phường K, thành phố Hải Phòng của Nguyễn Văn L bị giảm thu nhập. Việc anh Bùi Văn S đăng các thông tin sai sự thật trên mạng xã hội cũng là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến hậu quả uy tín, danh dự anh L và gia đình bị tổn thương. Do đó, anh L khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc anh S phải bồi thường thu nhập thực tế bị ảnh hưởng của quán sửa chữa xe máy và bồi thường danh dự, tổn thất tinh thần cho gia đình là có căn cứ, phù hợp quy định pháp luật.
Xét, yêu cầu bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là thu nhập thực tế bị ảnh hưởng của quán sửa chữa xe máy của anh Nguyễn Văn L: Anh L yêu cầu anh S bồi thường 5 tháng bị mất thu nhập, mỗi tháng là 24.000.000đ, tổng cộng là 120.000.000đ. Anh L đã xuất trình giấy xác nhận đề ngày 07/10/2025, Hợp đồng thuê quán sửa chữa xe máy ngày 10/7/2023, Sổ hạch toán chi tiết của tài khoản Nguyễn Văn L từ 01/01/2025 đến 31/5/2025 và từ 01/8/2025 đến 20/12/2025 để chứng minh thu nhập bị mất là 24.000.000đ/tháng. Tại sổ hạch toán chi tiết của tài khoản Nguyễn Văn L do ngân hàng Q1 sao kê thì từ 01/01/2025 đến 31/5/2025 là 5 tháng trước khi sự việc xảy ra, tại mục phát sinh có cộng được như sau: Tháng 1 phát sinh có 21.0870.000đ, tháng 2 phát sinh có 22.250.000đ, tháng 3 phát sinh có 35.895.000đ, tháng 4 phát sinh có 33.025.000đ, tháng 5 phát sinh có 34.890.000đ, tổng cộng: 147.147.000đ. Như vậy, trung bình 5 tháng thu nhập của quán sửa chữa xe máy trước khi xảy ra sự việc là 147.147/000đ : 5 = 29.429.000đ/tháng. Tại sổ hạch toán chi tiết của tài khoản Nguyễn Văn L do ngân hàng Q1 sao kê thì từ 01/8/2025 đến 20/12/2025 là 5 tháng sau khi sự việc xảy ra, tại mục phát sinh có cộng được như sau: Tháng 8 phát sinh có là 17.545.000đ, tháng 9 phát sinh có là 14.915.000đ, tháng 10 phát sinh có là 21.618.000đ, tháng 11 phát sinh có 0đ, tháng 12 phát sinh có 10.000đ, tổng cộng: 54.088.000đ. Như vậy, trung bình 5 tháng thu nhập của quán sửa chữa xe máy sau khi xảy ra sự việc là 54.088.000đ : 5 = 10.817.600đ/tháng. Trung bình của 5 tháng trước khi xảy ra sự việc thu nhập quán sửa xe của anh L là 29.429.000đ/tháng, tuy nhiên trong đơn khởi kiện, các bản tự khai và tại phiên tòa anh L chỉ yêu cầu anh S phải bồi thường 24.000.000đ/tháng do đó cần lấy mức yêu cầu của nguyên đơn là 24.000.000đ/tháng làm mức yêu cầu bồi thường. Trung bình 5 tháng sau khi sự việc xảy ra thu nhập của quán sửa xe anh L là 10.817.600đ/tháng. Như vậy, thiệt hại thực tế của quán S1 được xác định như sau: 24.000.000đ - 10.817.600đ = 13.182.400đ/tháng và thiệt hại thu nhập thực tế của quán sửa xe trong 5 tháng là: 5 x 13.182.400đ = 65.912.000đ. Theo quy định tại Điều 584, 585, 586 và Điều 589 Bộ luật Dân sự; Điều 7 Nghị Quyết số 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06/9/2022, của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao thì chỉ có căn cứ chấp nhận mức bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là thu nhập thực tế bị ảnh hưởng của quán sửa chữa xe máy của anh Nguyễn Văn L trong 5 tháng là 65.912.000đ.
Xét, yêu cầu bồi thường danh dự, tổn thất tinh thần gia đình anh L: Tại Biên bản làm việc ngày 19/9/2025 của Công an phường K thì anh Bùi Văn S đã thừa nhận tài khoản đăng tải bài viết có kèm ảnh nội dung về quán sửa xe của anh L trên facebook trong nhóm "Hội anh chị em Kiến An" là của anh và do anh đăng tải. Đối với nội dung:"Chúc anh mạnh khỏe để ăn hết số tiền Cướp được nhé" anh S thừa nhận anh L không có hành vi cướp tiền của mình. Do anh S nghĩ việc nhận tiền mà không sửa chữa xe của anh L giống như việc cướp tiền. Các hình ảnh đăng kèm có hình ảnh về con trai anh L là người không liên quan đến sự việc sửa xe. Sự việc này, khiến anh L và gia đình bị tổn thương về danh dự và tinh thần. Do đó, anh L yêu cầu anh S bồi thường danh dự, tổn thất tinh thần gia đình là 30.000.000đ. Xét, nội dung đăng tải của anh S là sai sự thật đã làm tổn hại đến uy tín, danh dự của anh L và gia đình là có thật. Tuy nhiên, anh S chỉ đăng 1 lần, trong 1 hội nhóm, không chia sẻ công khai và trong 1 khoảng thời gian ngắn sau đó đã gỡ bài đăng và bị cơ quan Công an phường K xử phạt hành chính về việc đăng tin sai sự thật. Do đó, việc làm tổn hại đến uy tín, danh dự của anh L và gia đình diễn ra trong thời gian ngắn và phạm vi tác động không rộng, chỉ trong hội nhóm trên mạng xã hội (facebook). Đối chiếu quy định tại Điều 584, 585, 586 và 592 Bộ luật Dân sự; Điều 9 Nghị Quyết số 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06/9/2022, của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao thì chỉ có căn cứ để buộc anh S phải bồi thường tổn hại về danh dự, tinh thần cho anh L và gia đình bằng 02 tháng lương cơ sở là 2.340.000đ x 2 = 4.680.000đ.
Xét ý kiến của bị đơn: Bị đơn anh Bùi Văn S đã được Tòa án tống đạt Thông báo thụ lý vụ án và nhiều lần tống đạt Giấy triệu tập hợp lệ để đến Tòa án giải quyết vụ án, nhưng đều vắng mặt, không có lý do nên không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận một phần nên anh Bùi Văn S phải chịu án phí dân sự sơ thẩm như sau: Đối với yêu cầu bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là thu nhập thực tế bị ảnh hưởng của quán sửa chữa xe máy là 65.912.000đ x 5% = 3.295.600đ; Đối với yêu cầu bồi thường danh dự, tổn thất tinh thần gia đình anh L là 300.000đ. Như vậy, anh Bùi Văn S phải chịu án phí dân sự sơ thẩm tổng cộng là: 3.295.600đ + 300.000đ = 3.595.600đ. Hoàn trả lại anh Nguyễn Văn L tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0006275 ngày 12/11/2025 của Cơ quan Thi hành án Dân sự thành phố Hải Phòng. Đối với phần yêu cầu vượt quá anh L được miễn án phí.
Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 26, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào các Điều 584, 585, 586, 589 và 592 Bộ luật Dân sự;
Căn cứ vào các Điều 7, 9 Nghị Quyết số 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06/9/2022, của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao;
Căn cứ Điều 26, Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
1. Chấp chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
- Buộc anh Bùi Văn S phải bồi thường cho anh Nguyễn Văn L các khoản sau: Thiệt hại thu nhập thực tế bị ảnh hưởng của quán sửa chữa xe máy là 65.912.000đ; tổn thất tinh thần, danh dự bị xúc phạm là 4.680.000đ, tổng cộng là 70.592.000đ (bảy mươi triệu năm trăm chín mươi hai nghìn đồng).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chậm thanh toán thì còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền chậm thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.
2. Về án phí và chi phí tố tụng:
- Anh Bùi Văn S phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 3.595.600đ (ba triệu năm trăm chín mươi lắm nghìn sáu trăm đồng).
- Hoàn trả lại anh Nguyễn Văn L tiền tạm ứng án phí 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0006275 ngày 12/11/2025 của Cơ quan Thi hành án Dân sự thành phố Hải Phòng.
3. Về quyền kháng cáo bản án: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận : - TAND TP. Hải Phòng; - VKS ND TP. Hải Phòng; - VKS ND Khu vực 2 -Hải Phòng; - THADS thành phố Hải Phòng; - Đương sự; - Lưu: Hồ sơ; HCTP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Tuấn Anh |