- Tranh chấp gì? "tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? [1] Căn cứ: khoản 1 Điều 268; khoản 1 Điều 269 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHONG TỈNH BÌNH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:35/2023/HSST Ngày: 12/4/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHONG, TỈNH BÌNH THUẬN
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lâm Thị Mỹ Kỷ
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thông Thái
Bà Nguyễn Thị Tây Nguyên
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kiêm Uyên - Thư ký Tòa án nhân dân Huyện Tuy Phong
Đại diện Viện kiểm sát huyện Tuy Phong tham gia phiên tòa: Ông Trương Vĩnh Vinh - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 4 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 13/2023/HSST, ngày 03/3/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 26/2023/QĐXXST-HS, ngày 28/3/2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Võ H; tên gọi khác: Xị; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 19/11/1992; Nơi sinh: tỉnh Bình Thuận; Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: khu phố 03, thị trấn P, huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận; Chỗ ở hiện nay: khu phố T, thị trấn P, huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Học vấn: 7/12; Nghề nghiệp: Làm biển; Cha: Võ T; Mẹ: Nguyễn B; Anh, chị, em ruột: Có 01 người sinh năm 2004; Vợ: Nguyễn V (chưa đăng ký kết hôn); Con: có 01 người sinh năm 2021; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang tại ngoại tại thị trấn P, huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận và có mặt tại phiên tòa.
Người làm chứng: Nguyễn V (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 16 giờ 00 phút ngày 10/12/2022 Võ H đi đến khu vực Đ thuộc xã Th, huyện B, tỉnh Bình Thuận tìm gặp một người đàn ông chạy xe ôm không rõ nhân thân, lai lịch nhờ người này mua giúp Võ H 400.000 đồng ma túy đá, người đàn ông này đồng ý và lấy thêm của Võ H 50.000 đồng tiền công để đi mua ma túy. Sau đó người này mang về cho Võ H 01 gói ma túy, Võ H mang gói ma túy vừa mua được về cất giấu tại nhà riêng ở khu phố T, thị trấn P, Huyện Tuy Phong.
Đến khoảng 11 giờ 50 phút ngày 14/12/2022, Công an thị trấn P tiến hành kiểm tra hành chính tại nhà riêng của Võ H phát hiện bắt quả tang Võ H có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Thu giữ trên mặt két sắt trong phòng ngủ của Võ H có 01 gói nylon không màu được hàn kín, kích thước khoảng 01cm x 3cm, bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng. Võ H khai nhận gói nylon thu giữ bên trong chứa chất tinh thể màu trắng là ma túy đá của Võ H mua về cất giấu để sử dụng, khi Võ H mang ma túy ra để trên mặt két sắt trong phòng ngủ chuẩn bị sử dụng thì bị phát hiện bắt quả tang.
01 gói nylon không màu được hàn kín, kích thước 01cmx03cm bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng đã thu giữ của Võ H được niêm phong và gửi giám định được định danh là mẫu M.
Tại bản kết luận giám định số 1356/KL - KTHS ngày 21/11/2022 của phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Thuận kết luận:
Mẫu M gửi giám định có khối lượng 0,2361 gam; là Methamphetamine.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Huyện Tuy Phong: Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố theo Cáo trạng số: 23/QĐ/KSĐT/VKS/HS, 01/3/2023 của Viện kiểm sát nhân dân Huyện Tuy Phong.
Đề nghị Hội đồng xét xử: áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Võ H từ 12 đến 15 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án.
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 46; điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017); điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Đề nghị tịch thu tiêu hủy gói nylon và 0,1537 gam mẫu M còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 1356.
Lời nói sau cùng: Bị cáo Võ H xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Căn cứ vào các chứng cứ và các tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Viện kiểm sát, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, trình tự thủ tục tố tụng cũng như các quyết định của Cơ quan điều tra – Công an Huyện Tuy Phong, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, trình tự thủ tục tố tụng cũng như các quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, trình tự thủ tục tố tụng cũng như các quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định pháp luật.
Về chứng cứ buộc tội bị cáo: Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa có đủ cơ sở kết luận: vào khoảng 11 giờ 50 phút ngày 14/12/2022, tại khu phố T, thị trấn P, huyện Tuy Phong, Võ H đã tàng trữ 01 gói ma túy đá có khối lượng 0,2361 gam là Methamphetamine nên hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự, như lời luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa.
Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
Hành vi phạm tội nêu trên của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý về ma túy của Nhà nước, là một trong những nguyên nhân gây ra tệ nạn xã hội và làm lây truyền các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm cho tính mạng và sức khỏe cộng đồng, gây mất trật tự trị an tại địa phương.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).
Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự nên cũng cần xem xét nhằm thể hiện tính nhân đạo của pháp luật.
Trên cơ sở căn nhắc các tình tiết của vụ án và nhân thân của bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm giáo dục các bị cáo trở thành người tốt, công dân có ích cho xã hội, qua đó nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Đối với quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Huyện Tuy Phong tại phiên tòa là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên chấp nhận toàn bộ.
Về xử lý vật chứng: Đối với 01 gói nylon không màu đã cắt lấy mẫu và 0,15373 gam mẫu M còn lại sau giám định, đây là vật không có giá trị sử dụng và là vật cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với người đàn ông ở khu vực Đ, xã Th, huyện B đã mua ma túy cho bị cáo, do không rõ lai lịch nên sẽ tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý sau.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Căn cứ: khoản 1 Điều 268; khoản 1 Điều 269 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Tuyên bố bị cáo Võ H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015.
Xử phạt bị cáo Võ H 01 (Một) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án.
[2] Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 46; điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017); điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Tịch thu tiêu hủy gói nylon đã cắt lấy mẫu và 0,1537 gam mẫu M còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 1356.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 01/3/2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điêu tra Công an huyện Tuy Phong và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tuy Phong).
[3] Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
[4] Về quyền kháng cáo: Án xử công khai có mặt bị cáo, đại diện hợp pháp của bị cáo và người bào chữa. Báo cho họ biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Tòa án ND Tỉnh Bình Thuận; - VKSND huyện Tuy Phong; - Công an huyện Tuy Phong; - Bị cáo; - Chi cục THADS huyện Tuy Phong; - Lưu Hồ sơ. | Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Lâm Thị Mỹ Kỷ |