vanban.org

Bản án 35/2026/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Trần Văn P phạm tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”.

Xử phạt bị cáo Trần Văn P 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 18/9/2025). Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 20… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "TVP - Quân Dụng - chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Văn P phạm tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 4 - QUẢNG NGÃI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 35/2026/HS - ST
Ngày 03/7/2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - QUẢNG NGÃI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đàm Quang Hiệp

Các Hội thẩm nhân dân:

+ Ông Nguyễn Hồng Quang

+ Ông Huỳnh Văn Hiền

- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Ngọc Thanh, là Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 4 - Quảng Ngãi.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4 - Quảng Ngãi tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thị Mỹ Hạnh - Kiểm sát viên.

Ngày 03/7/2026, tại Trụ sở Toà án nhân dân Khu vực 4 - Quảng Ngãi xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 31/2026/TLST-HS, ngày 18 tháng 5 năm 2026, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 61/2026/QĐXXST-HS, ngày 19 tháng 6 năm 2026, đối với bị cáo:

Trần Văn P, Tên gọi khác: không, sinh ngày 18 tháng 4 năm 1988 tại: tỉnh Quảng Ngãi; Nơi cư trú: thôn T, xã T, tỉnh Quảng Ngãi; Số CCCD: 051088012696, cấp ngày 08/9/2022, Nơi cấp: Cục Cảnh Sát QLHC về TTXH; Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 08/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; giới tính Nam; Tôn giáo: Không; Con ông: Trần Văn T, Sinh năm: 1956 và con bà: Trần Thị Ngọc T, Sinh năm: 1961; Vợ: Trần Thị H – Sinh năm 1989 (đã ly hôn), Con: Trần Bảo N - Sinh năm 2011; Tiền án, tiền sự: không.

Về nhân thân: Theo Bản án số 16/2009/HSST ngày 08/4/2009 của Tòa án nhân dân huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi (nay là Tòa án nhân dân Khu vực 3 – Quảng Ngãi), bị cáo Trần Văn P bị tuyên 12 tháng tù cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản”. Quá trình điều tra, Cơ quan An ninh điều tra đã tiến hành thu thập hồ sơ về thi hành án treo của Trần Văn P, nhưng không có thông tin. Xét thấy, từ ngày 08/4/2009 đến ngày 08/9/2025, qua tra cứu thông tin thì chưa phát hiện hành vi vi phạm pháp luật nào khác của bị cáo. Đồng thời, bị cáo đã chấp hành xong án phí hình sự đối với Bản án nêu trên. Do đó, đương nhiên được xóa án tích theo quy định tại khoản 1 và điểm a khoản 2 Điều 70 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam, kể từ ngày 18/9/2025 đến nay, có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Bà Trần Thị Ngọc T, sinh năm 1961, địa chỉ: Thôn T, xã T, tỉnh Quảng Ngãi

- Ông Trần Văn Tg, sinh năm 1956; địa chỉ: Thôn T, xã T, tỉnh Quảng Ngãi

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng tháng 5/2025 (không xác định thời gian cụ thể), khi đang tưới cây tại địa chỉ số 345 Nguyễn Huệ, thôn T, xã T, tỉnh Quảng Ngãi thì Trần Văn P thấy một túi ni lông màu đen trước nhà, P mở ra xem và thấy bên trong có 01 hộp giấy ghi dòng chữ “JUMBO VAPE”, trong đó chứa 01 khẩu súng tự chế bằng kim loại hình trụ tròn, bên trong súng có một số viên đạn. P vứt túi đen, còn hộp giấy cùng súng, đạn thì P đem cất giấu trong túi áo khoác màu xanh của bà Trần Thị H (sinh năm 1989, trú tại: phường H, tỉnh Gia Lai - là vợ cũ của P) trong tủ quần áo ở phòng ngủ. Mục đích của P là để hỏi người khác về loại súng cũng như cách sử dụng nhưng sau đó P đã quên việc cất giấu khẩu súng và số đạn này.

Đến ngày 09/09/2025, Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Quảng Ngãi phối hợp Công an xã Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi tiến hành kiểm tra và phát hiện Trần Văn P, Đào Phú V (SN 1987; trú tại: Thôn Điện An 1, xã Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi); Trương Quang A (SN 1996; trú tại: Thôn Thanh Hà, xã Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi); Phan Quang H (SN 1983, trú tại: Thôn An Hà 3, xã Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi); Phạm Văn S (SN 1972, trú tại: Thôn An Bình, xã Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi); Trần Minh H (SN 1993, trú tại: Tổ 4, phường Cẩm Thành, tỉnh Quảng Ngãi) và Đoàn Thị Kiều H (SN 1997; trú tại: Tổ 23, phường Cẩm Thành, tỉnh Quảng Ngãi) đang có hành vi liên quan đến việc sử dụng trái phép chất ma túy tại nhà của P. Quá trình khám xét khẩn cấp chỗ ở của Trần Văn P, Cơ quan Công an phát hiện khẩu súng, đạn được P cất giấu trong tủ quần áo của mình.

Ngày 12/09/2025, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Quảng Ngãi ra Quyết định trưng cầu giám định số 5731/QĐ-CSMT, trưng cầu Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ngãi giám định súng, đạn thu giữ trong vụ án. Tại Kết luận giám định số 1086/KL-KTHS, ngày 25/09/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ngãi kết luận:

- 01 (một) khẩu súng gửi giám định là súng tự chế kiểu ổ quay, không xác định được nước sản xuất. Súng còn sử dụng để bắn được, thuộc vũ khí quân dụng.

- 04 (bốn) viên đạn gửi giám định (lấy ra từ ổ quay của khẩu súng nêu trên) là loại đạn cỡ 5,6mm, đạn còn sử dụng để bắn được, thuộc vũ khí quân dụng. Đạn sử dụng để bắn được cho một số loại súng có cỡ nòng 5,6mm như: Ruger 10/22, Marlin Model 60, súng tự chế kiểu ổ quay.

Tại Cáo trạng số 28/CT-VKSQNG-P1 ngày 13/5/2026, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi truy tố: Trần Văn P về tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng” quy định tại khoản 1 Điều 304 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4 – Quảng Ngãi (là cơ quan được Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi phân công thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử) giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Trần Văn P về tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”. Áp dụng khoản 1 Điều 304, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; xử phạt bị cáo Trần Văn P từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù;

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Giao cho bộ chỉ huy quân sự tỉnh Quảng Ngãi (Đại đội kho vũ khí – Đạn 1 thuộc Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Quảng Ngãi) tịch thu tiêu hủy 01 khẩu súng tự chế kiểu ổ quay và hộp giấy có dòng chữ “JUMBO VAPE” được niên phong trong túi niên phong có mã số PS2 24124806 (theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng giữa Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh Quảng Ngãi và Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Quảng Ngãi).

Án phí: Áp dụng Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội buộc bị cáo P chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo không có ý kiến đối đáp tranh luận gì; bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Đây là vụ án do Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra nên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi quyết định truy tố là phù hợp. Do vụ án thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân Khu vực 4 – Quảng Ngãi nên sau khi quyết định truy tố, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi ra quyết định phân công cho Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4 - Quảng Ngãi thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 239 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh Quảng Ngãi, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng thẩm quyền, đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo Trần Văn P khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi đã truy tố. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, truy tố; phù hợp với kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên có cơ sở xác định:

Sau khi nhặt được 01 khẩu súng tự chế và 04 viên đạn (là vũ khí quân dụng) vào tháng 05/2025, Trần Văn P nhận thức được súng, đạn là vũ khí nguy hiểm nhưng P không khai báo, giao nộp cho cơ quan chức năng quản lý theo quy định mà cất giấu tại nhà riêng ở địa chỉ 345 Nguyễn Huệ, thôn T, xã T, tỉnh Quảng Ngãi từ tháng 5/2025 đến ngày 10/09/2025 thì bị phát hiện, thu giữ. Theo Kết luận giám định số 1086/KL-KTHS, ngày 25/09/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ngãi kết luận:

- 01 (một) khẩu súng gửi giám định là súng tự chế kiểu ổ quay, không xác định được nước sản xuất. Súng còn sử dụng để bắn được, thuộc vũ khí quân dụng.

- 04 (bốn) viên đạn gửi giám định (lấy ra từ ổ quay của khẩu súng nêu trên) là loại đạn cỡ 5,6mm, đạn còn sử dụng để bắn được, thuộc vũ khí quân dụng. Đạn sử dụng để bắn được cho một số loại súng có cỡ nòng 5,6mm như: Ruger 10/22, Marlin Model 60, súng tự chế kiểu ổ quay thuộc vũ khí quân dụng.

Bị cáo Trần Văn P là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo biết rõ việc tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cất giữ trong tủ quần áo ở phòng ngủ tại nhà ở địa chỉ 345 Nguyễn Huệ, thôn T, xã T, tỉnh Quảng Ngãi từ 05/2025 đến ngày 10/09/2025 thì bị phát hiện. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến quyền quản lý, sử dụng vũ khí quân dụng của Nhà nước, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội ở địa P và đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng” quy định tại khoản 1 Điều 304 Bộ luật Hình sự. Do đó, cần phải xử phạt bị cáo bằng hình phạt tù có thời hạn, với mức hình phạt nghiêm khắc để răn đe, giáo dục bị cáo, cũng như để phòng ngừa chung tội phạm.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo Trần Văn P không có nghề nghiệp ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo

Về những tình tiết liên quan đến vụ án:

- Đối với những người có mặt tại căn nhà số 345 Nguyễn Huệ, thôn T, xã T, tỉnh Quảng Ngãi vào đêm ngày 09/9/2025, rạng sáng ngày 10/9/2025 gồm: Đào Phú V, Trương Quang A, Phan Quang H, Phạm Văn S, Trần Minh H, Đoàn Thị Kiều H không liên quan đến hành vi tàng trữ súng, đạn của Trần Văn P.

- Đối với người nhà và vợ cũ của Trần Văn P: Qua làm việc, người nhà của bị cáo P xác định ngôi nhà số 345 Nguyễn Huệ, thôn T, xã T, tỉnh Quảng Ngãi là của cha, mẹ cho bị cáo P ở từ lâu nay. Bị cáo P ở cùng vợ con đến năm 2021 thì ly hôn và ở một mình cho đến nay. Bà Trần Thị H (sinh năm 1989, vợ cũ của P) xác định từ năm 2021 đến nay không sống tại căn nhà số 345 Nguyễn Huệ, thôn T, xã T, tỉnh Quảng Ngãi. Áo khoác màu xanh và một số quần áo trong tủ tại phòng ngủ là của bà Hòa bỏ lại, không dùng từ năm 2021 đến nay. Do đó, những cá nhân nói trên không liên quan đến hành vi tàng trữ súng, đạn của Trần Văn P.

Về xử lý vật chứng: Giao Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Quảng Ngãi (Đại đội kho vũ khí – Đạn 1 thuộc Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Quảng Ngãi) tịch thu tiêu hủy 01 khẩu súng tự chế kiểu ổ quay và hộp giấy có dòng chữ “JUMBO VAPE” được niên phong trong túi niên phong có mã số PS2 24124806, theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng giữa Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh Quảng Ngãi và Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Quảng Ngãi.

Về án phí: Bị cáo Trần Văn P phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án này theo quy định tại các điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Về căn cứ truy tố của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi và luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4 – Quảng Ngãi tại phiên tòa là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 304, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tuyên bố bị cáo Trần Văn P phạm tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”.

Xử phạt bị cáo Trần Văn P 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 18/9/2025).

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Giao cho bộ chỉ huy quân sự tỉnh Quảng Ngãi (Đại đội kho vũ khí – Đạn 1 thuộc Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Quảng Ngãi) tịch thu tiêu hủy 01 khẩu súng tự chế kiểu ổ quay và hộp giấy có dòng chữ “JUMBO VAPE” được niên phong trong túi niên phong có mã số PS2 24124806, theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng giữa Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh Quảng Ngãi và Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Quảng Ngãi.

3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Bị cáo Trần Văn P phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ