vanban.org

Bản án 35/2026/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh, hình phạt:

Tuyên bố bị cáo Lý Thị L phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý. Xử phạt bị cáo Lý Thị L 44 tháng tù. Thời hạn tính từ ngày tạm giữ 02/3/2026. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lý Thị L - tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh, hình phạt:
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 16 – PHÚ THỌ
Bản án số: 35/2026/HS-ST
Ngày: 23-7-2026

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16 - PHÚ THỌ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Thanh Tùng.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lường Khắc Tiệp và ông Vì Văn Tùng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Văn Cao – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 16

- Phú Thọ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 16 - Phú Thọ tham gia phiên tòa: Ông Bùi Văn Hải - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 7 năm 2026, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 16 - Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 25/2026/TLST-HS ngày 17 tháng 6 năm 2026, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 36/2026/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 7 năm 2026 đối với bị cáo:

Lý Thị L, sinh ngày 20 tháng 10 năm 1983, tại: Xã V, tỉnh Sơn La; nơi cư trú: Tổ dân phố Đ (trước ngày 01/7/2026 là Tổ dân phố T), phường V, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 02/12; dân tộc: Dao; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lý Văn P, sinh năm 1954 và bà Bàn Thị K (đã chết); bị cáo có 02 chồng đều đã ly hôn, chồng thứ nhất là Nguyễn Văn V, sinh năm 1982, chồng thứ hai là Nguyễn Đình T, sinh năm 1982 và có 02 con, con lớn nhất sinh năm 2001 (đẻ được hơn 01 tháng, chưa kịp khai sinh thì chết), con nhỏ nhất sinh năm 2013.

Tiền án, tiền sự: Không có.

Nhân thân:

- Ngày 26/9/2017, Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 24 tháng theo Quyết định số 217/QĐ-TA. Đến ngày 18/10/2017, được Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La tạm định chỉ chấp hành biện pháp xử lý hành chính theo Quyết định số 01/QĐ-TA (đến nay được coi là chấp hành xong);

- Ngày 27/02/2020, Tòa án nhân dân huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La xử phạt 24 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo Bản án số 10/2020/HS-ST (chấp hành xong ngày 17/10/2021);

- Ngày 09/8/2022, Tòa án nhân dân huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La xử phạt 22 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo Bản án số 69/2022/HS-ST (chấp hành xong ngày 22/01/2024);

- Sau khi thực hiện hành vi phạm tội lần này, ngày 03/3/2026, Công an xã Mai Châu, tỉnh Phú Thọ xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy bằng hình thức phạt tiền 1.500.000 đồng tại Quyết định số 12/QĐ-XPHC (đã nộp xong tiền phạt ngày 19/5/2026);

Bị cáo khai có sử dụng, nghiện chất ma túy. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 02/3/2026, chuyển tạm giam từ ngày 11/3/2026 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ 30 phút, ngày 02/3/2026, Tổ công tác Công an xã Mai Châu, tỉnh Phú Thọ đang làm nhiệm vụ tuần tra trên tuyến đường thuộc xóm Tiểu Khu (nay là xóm Đồng Bảng), xã Mai Châu, tỉnh Phú Thọ thì phát hiện Lý Thị L, sinh năm 1983, nơi cư trú: Tổ dân phố T (nay là Tổ dân phố Đ), phường V, tỉnh Sơn La đi bộ theo hướng từ xóm Tiểu Khu, xã Mai Châu – xóm Bâng, xã Mai Châu có biểu hiện nghi vấn nên đã yêu cầu dừng lại để kiểm tra. Khi phát hiện thấy Tổ công tác, Lý Thị L đã ném 01 gói nilon màu trắng xuống mép đường và bị tổ công tác phát hiện. Lý Thị L khai nhận bên trong gói nilon màu trắng L ném xuống mép đường có 10 viên ma túy tổng hợp và các cục ma túy là Heroine của L dùng để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ và niêm phong toàn bộ vật chứng theo quy định của pháp luật.

Kết quả điều tra đã xác định được như sau: Lý Thị L là đối tượng thường xuyên sử dụng chất ma túy, lang thang tại khu vực xã Mai Châu, tỉnh Phú Thọ để làm thuê sinh sống. Đêm ngày 01/3/2026, Lý Thị L bắt xe khách đi từ xã Mai Châu, tỉnh Phú Thọ đến Bản Co Tang, xã Vân Hồ, tỉnh Sơn La tìm mua ma túy để sử dụng. Sau khi xuống xe, L đi bộ trên đường vào Bản Co Tang, xã Vân Hồ, tỉnh Sơn La thì gặp 01 người đàn ông mặc quần áo người dân tộc Mông không quen biết đang đi trên đường. Qua hỏi chuyện L biết người đàn ông trên có ma túy bán nên đã đưa cho người đó 300.000 đồng để mua ma túy. Người đàn ông nhận tiền sau đó lấy từ trong người ra 01 gói nilon, sau đó lấy các viên ma túy tổng hợp ra gói lại bằng nilon màu trắng và lấy các cục Heroine ra gói lại bằng giấy trắng có dòng kẻ rồi gói chung lại bên ngoài bằng một lớp nilon màu trắng đưa cho L. Sau khi mua được ma túy, L mở gói ma túy ra và lấy một ít ma túy để sử dụng, sau đó gói lại cất giấu vào trong người rồi đi ra Quốc lộ 6 để bắt xe khách đi về khu vực xóm Tiểu Khu, xã Mai Châu, tỉnh Phú Thọ để hôm sau tìm việc làm thuê. Khi về đến khu vực xóm Tiểu Khu, xã Mai Châu, tỉnh Phú Thọ, do mệt và say xe Lý Thị L đã nằm ngủ tại ven đường Quốc lộ 6. Đến khoảng 12 giờ 30 phút ngày 02/3/2026 do muốn sử dụng ma túy, L lấy từ trong người ra gói ma túy cầm bên tay phải rồi đi bộ hướng xóm Tiểu Khu, xã Mai Châu – xóm Bâng, xã Mai Châu để tìm nơi sử dụng. Trên đường đi L thì bị Tổ công tác Công an xã Mai Châu, tỉnh Phú Thọ phát hiện, bắt quả tang, thu giữ và niêm phong toàn bộ vật chứng theo quy định của pháp luật.

Tại biên bản kiểm tra chất ma túy đối với Lý Thị L vào hồi 14 giờ 45 phút ngày 02/3/2026 xác định: Lý Thị Loan dương tính với chất ma túy.

Tại Kết luận giám định số: 1224/KL-KTHS, ngày 06/3/2026 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Phú Thọ, kết luận:

- Các viên nén hình trụ màu hồng (ký hiệu M1) trong phong bì niêm phong một mặt ghi “Vật chứng thu giữ của Lý Thị L, sinh năm: 1983, trú tại: tổ dân phố T, phường V, tỉnh Sơn La. Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy ngày 02/3/2026 tại xóm Tiểu Khu, xã Mai Châu, tỉnh Phú Thọ” có tổng khối lượng 1,040 gam (Một phẩy không bốn không gam), là ma túy, loại Methamphetamine.

- Chất bột dạng cục màu trắng (ký hiệu M2) trong phong bì niêm phong một mặt ghi “Vật chứng thu giữ của Lý Thị L, sinh năm: 1983, trú tại: tổ dân phố T, phường V, tỉnh Sơn La. Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy ngày 02/3/2026 tại xóm Tiểu Khu, xã Mai Châu, tỉnh Phú Thọ” có khối lượng 0,226 gam (Không phẩy hai hai sáu gam), là ma túy, loại Heroine.

Tại bản Cáo trạng số: 18/CT-VKSPTO-KV16 ngày 15 tháng 6 năm 2026, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 16 – Phú Thọ truy tố Lý Thị L về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 16 – Phú Thọ luận tội giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Về tội danh, hình phạt: Đề nghị tuyên bố bị cáo Lý Thị L phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Lý Thị L từ 42 tháng đến 44 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 02/3/2026.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là đối tượng sử dụng, nghiện chất ma túy, không có việc làm ổn định, không có điều kiện thi hành nên không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng của vụ án: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị: Tuyên tịch thu toàn bộ số ma túy thu được, sau khi giám định số còn lại đã hoàn trả, để tiêu hủy.

Về vấn đề khác:

- Đối với người đàn ông mà Lý Thị L khai đã bán ma tuý cho L, kết quả điều tra không xác định được tên tuổi, địa chỉ của người này, không xác định được là ai nên không có căn cứ đề nghị xử lý.

- Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Lý Thị L. Căn cứ kết quả xác minh, xác định Lý Thị L không thuộc một trong các trường hợp quy định tại Điều 256a của Bộ luật Hình sự. Do đó, ngày 03/3/2026 Công an xã Mai Châu, tỉnh Phú Thọ đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 12/QĐ-XPHC đối với Lý Thị L bằng hình thức phạt tiền là 1.500.000 đồng là có căn cứ, đúng theo quy định pháp luật. Nên đề nghị Hội đồng xét xử không xét đến.

Đề nghị áp dụng khoản 1 và khoản 3 Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.

Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị Hội đồng xét xử tuyên về phần án phí và quyền kháng cáo.

Ý kiến của bị cáo: Bị cáo đã nhận được các văn bản tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án, quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đã được phổ biến quyền và nghĩa vụ, không bị ép cung, mớm cung, bị cáo đồng ý với nội dung Cáo trạng và Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm, bị cáo không có ý kiến tranh luận gì, bị cáo không thuê Luật sư hoặc nhờ trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho mình, do nghiện ma túy nên bị cáo đã đi mua và tàng trữ ma túy để sử dụng cho bản thân, ngoài ra không có mục đích gì khác, bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Những chứng cứ xác định có tội: Bị cáo bị bắt, bị lập Biên bản bắt người phạm tội quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Tại Cơ quan điều tra và phiên tòa hôm nay, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường, vật chứng thu được, kết luận giám định cùng toàn bộ các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó đã có đủ căn cứ để kết luận: Lý Thị L là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Đêm ngày 01/3/2026, tại địa phận Bản Co Tang, xã Vân Hồ, tỉnh Sơn La, Lý Thị L đã mua được 01 gói ma túy với một người đàn ông không quen biết với số tiền 300.000 đồng; sau khi mua được ma túy L lấy một ít ma túy tổng hợp và Heroine ra sử dụng, số còn lại L cất giấu trong người rồi quay lại Quốc lộ 6 để đón xe khách đi về xóm Tiểu Khu, xã Mai Châu, tỉnh Phú Thọ. Khi về đến khu vực xóm Tiểu Khu, xã Mai Châu, tỉnh Phú Thọ, do mệt và say xe Lý Thị Loan đã nằm ngủ tại ven đường Quốc lộ 6. Đến khoảng 12 giờ 30 phút, ngày 02/3/2026, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên Lý Thị L cầm ma túy đi tìm địa điểm để sử dụng thì bị Tổ công tác Công an xã Mai Châu, tỉnh Phú Thọ phát hiện, bắt quả tang khi đang tàng trữ 1,040 gam ma túy, loại Methamphetamine và 0,226 gam ma túy, loại Heroine. Tổng khối lượng 02 chất ma túy mà Lý Thị L tàng trữ là 1,266 gam. Kết quả điều tra và tại phiên tòa xác định Lý Thị L tàng trữ ma túy để sử dụng cho bản thân, ngoài ra không còn mục đích nào khác.

Như vậy, có đủ căn cứ xác định bị cáo Lý Thị L phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Chứng cứ xác định không có tội: Không có.

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội: Bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật, biết rõ tác hại của ma tuý đối với bản thân, gia đình và xã hội, trong khi Nhà nước và toàn thể xã hội đang tìm mọi biện pháp phòng, chống tiến tới loại trừ tệ nạn ma tuý ra khỏi cộng đồng bởi tác hại rất lớn của nó. Bị cáo đã từng bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, 02 lần bị kết án về tội phạm ma túy, sau khi chấp hành xong không lấy đó làm bài học để tu dưỡng, rèn luyện bản thân; lần này bị cáo vẫn cố ý tàng trữ 02 chất ma túy với tổng khối lượng 1,266 gam để sử dụng cho bản thân. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm trực tiếp đến chính sách quản lý Nhà nước về chất ma túy.

Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xét về nhân thân của bị cáo:

- Ngày 26/9/2017, Lý Thị L bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 24 tháng. Ngày 18/10/2017, L được tạm đình chỉ chấp hành biện pháp để điều trị bệnh theo Văn bản đề nghị ngày 05/10/2017 của Cơ sở điều trị nghiện ma túy tỉnh Sơn La. Theo khoản 2 Điều 112 Luật Xử lý vi phạm hành chính, thời gian điều trị bệnh vẫn được tính vào thời gian chấp hành quyết định. Ngày 05/10/2019, Lý Thị L thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy và sau đó bị Tòa án xử phạt 24 tháng tù theo Bản án ngày 27/02/2020, tính đến thời điểm phạm tội (ngày 05/10/2019), Loan đã chấp hành đủ 24 tháng theo quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính, kể cả thời gian được tạm đình chỉ để điều trị bệnh. Do đó, xác định Lý Thị L đã chấp hành xong biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trước khi thực hiện hành vi phạm tội. Căn cứ khoản 2 Điều 7 Luật Xử lý vi phạm hành chính, đến thời điểm này Lý Thị L được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính, tức không có tiền sự.

- Đối với Bản án số 10/2020/HS-ST ngày 27/02/2020 của Tòa án nhân dân huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La xử phạt Lý Thị L 24 tháng tù (đã chấp hành xong ngày 17/10/2021) và Bản án số 69/2022/HS-ST ngày 09/8/2022 của Tòa án nhân dân huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La xử phạt 22 tháng tù (đã chấp hành xong ngày 22/01/2024), đều về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Căn cứ Điều 70 Bộ luật Hình sự, đến thời điểm thực hiện hành vi phạm tội ngày 02/3/2026 bị xét xử lần này, Lý Thị L đã được xóa án tích, không có tiền án.

Căn cứ quy định của Bộ luật Hình sự, cân nhắc tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội, khối lượng 02 chất ma túy mà bị cáo tàng trữ là 1,266 gam, nguyên nhân, hậu quả của hành vi phạm tội, tiền án, tiền sự, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo nêu trên. Xét cần xử phạt tù có thời hạn với mức án nghiêm khắc, nhưng phù hợp đối với bị cáo, nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Về tội danh, điều luật áp dụng, hình phạt, hình phạt bổ sung, xử lý vật chứng, tạm giam sau khi tuyên án và về các vấn đề khác mà đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đã có ý kiến đề nghị nêu trên. Xét thấy có căn cứ phù hợp quy định pháp luật cần xử lý, giải quyết theo hướng đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.

Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Về án phí: Bị cáo Lý Thị L phải nộp án phí theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại các Điều 331, 332, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh, hình phạt:

Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự:

- Tuyên bố bị cáo Lý Thị L phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý.

- Xử phạt bị cáo Lý Thị L 44 tháng tù. Thời hạn tính từ ngày tạm giữ 02/3/2026.

2. Về xử lý vật chứng:

Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên:

- Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số Methamphetamine và Heroine sau khi giám định số còn lại đã hoàn trả, được niêm phong trong 01 phong bì.

(Vật chứng nêu trên hiện đang lưu giữ tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 16, tỉnh Phú Thọ, tình trạng, đặc điểm cụ thể của vật chứng được ghi trong Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số: 37/KV16 ngày 26/6/2026 giữa bên giao Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Phú Thọ, bên nhận Phòng Thi hành án dân sự khu vực 16, tỉnh Phú Thọ).

3. Về án phí:

Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Bị cáo Lý Thị L phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo:

Áp dụng Điều 331, 332, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án bị cáo có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ để xét xử phúc thẩm.

Cỡ chữ