- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đoàn Văn T - tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? 1. Tuyên bố bị cáo Đoàn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 - NINH BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 35/2026/HS-ST Ngày: 16-03-2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 - NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Đính.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Dương Thị Vui.
Bà Nguyễn Thị Thúy Mùi.
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Công Thành - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 11 – Ninh Bình.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 11 - Ninh Bình tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thanh Quỳnh - Kiểm sát viên.
Trong ngày 16 tháng 03 năm 2026 tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 11 - Ninh Bình, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 27/2026/TLST-HS ngày 12 tháng 02 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 25/2026/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 02 năm 2026 đối với bị cáo:
Đoàn Văn T, sinh năm 1966; sinh trú quán: Tổ dân phố Đ, xã R, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: Tự do; trình độ học vấn: 07/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đoàn Đình T, sinh năm 1934 (đã chết) và bà Đào Thị T, sinh năm 1932 (đã chết). Chị em ruột có 06 người, bị cáo là thứ bốn. Có vợ là Vũ Thị Q, sinh năm 1967. Bị cáo có 04 con, lớn nhất sinh năm 1988, nhỏ nhất sinh năm 2000; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/12/2025 cho đến nay. Có mặt.
- Người làm chứng:
1. Chị Phạm Thị T, sinh năm 1985. Vắng mặt;
2. Anh Trần Anh N, sinh năm 1981. Vắng mặt.
3. Chị Đoàn Thị Thanh M, sinh năm 1993. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do mắc nghiện ma tuý nên khoảng 23 giờ ngày 16/12/2025, Đoàn Văn T, sinh năm 1966, ở tổ dân phố Đ, xã R (là người nghiện ma túy), cầm theo 1.000.000 đồng và điều khiển xe mô tô HONDA LEAD màu đen, biển số 18L1- 458.48, đi từ nhà đến khu vực đê thuộc xã Quang Thiện, tỉnh Ninh Bình, mục đích mua ma túy về sử dụng cho bản thân. Tại đây, T gặp một người đàn ông không biết tên, tuổi, địa chỉ, hỏi mua Heroine và được người này bán cho 04 gói Heroine với giá 1.000.000 đồng. T cầm và mang 04 gói Heroin về nhà cất giấu trong túi quần cá nhân. Trưa ngày 17/12/2025, T cất 02 gói ma túy vào túi quần bên phải và 02 gói ma túy vào túi quần phía sau bên phải, đi nhờ xe người đi đường không biết tên, tuổi, đến gần phòng khám Hà Thành thuộc thôn Thiên Bình, xã Quỹ Nhất, tỉnh Ninh Bình thì T đi bộ tìm nơi sử dụng ma túy. Khoảng 11 giờ 30 phút cùng ngày, T đi đến khu vực Quốc lộ 21B thuộc thôn Thiên Bình, xã Quỹ Nhất, tỉnh Ninh Bình thì bị tổ công tác Công an xã Quỹ Nhất bắt quả tang. Thu giữ của T tổng 04 gói nhỏ gồm: 02 gói nhỏ trong đó 01 gói vỏ giấy màu vàng (vỏ bao thuốc lá Thăng Long) và 01 gói vỏ giấy màu trắng (vỏ bao thuốc lá Điện Biên) tại túi quần bên phải và 02 gói vỏ giấy màu vàng (vỏ bao thuốc lá Thăng Long) tại túi quần sau bên phải T đang mặc. Cả 04 gói trên thu giữ của T bên trong đều chứa chất bột dạng cục màu trắng (niêm phong ký hiệu M), T khai nhận 04 gói trên đều là Heroine, T cất giấu trong người để sử dụng. Tổ công tác đã đưa Đoàn Văn T về Công an xã Quỹ Nhất để lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Tại bản kết luận giám định số 58/KL-KTHS ngày 23/12/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình, kết luận: Mẫu chất bột dạng cục màu trắng được niêm phong ký hiệu M có tổng khối lượng 1,164 gam gửi giám định đều là ma túy, loại Heroine (Heroin).
Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Ninh Bình đã lấy mẫu nước tiểu của T (niêm phong kí hiệu M1).
Tại bản kết luận giám định số 57/KL-KTHS ngày 23/12/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình, kết luận: Không tìm thấy thành phần các chất ma túy do Chính phủ ban hành trong mẫu nước tiểu ghi thu của Đoàn Văn T được niêm phong ký hiệu M1 gửi giám định.
Cáo trạng số 62/CT-VKS-KV11 ngày 11/02/2026 của Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 11 - Ninh Bình truy tố bị cáo Đoàn Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 11 – Ninh Bình giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Đoàn Văn T phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt Đoàn Văn T từ 4 năm đến 4 năm 6 tháng tù.
Đề nghị xử lý vật chứng của vụ án đã thu giữ trong quá trình điều tra, không áp dụng hình phạt tiền là hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận.
Trong lời nói sau cùng, bị cáo đều thừa nhận đã phạm tội, hứa sửa chữa lỗi lầm và xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Ninh Bình, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 11 – Ninh Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng đã được thực hiện đều hợp pháp.
Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra; phù hợp lời khai người làm chứng, biên bản bắt giữ người có hành vi phạm tội quả tang, kết luận giám định của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình cùng các tài liệu khác đã được thẩm tra tại phiên tòa. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận: Đoàn Văn T là đối tượng nghiện ma túy. Ngày 17 tháng 12 năm 2025 tại khu vực Quốc lộ 21B thuộc thôn Thiên Bình, xã Quỹ Nhất, tỉnh Ninh Bình. Bị cáo đã có hành vi tàng trữ 1,164 gam Heroine trong người, mục đích để sử dụng thì bị tổ công tác của Công an xã Quỹ Nhất bắt quả tang hồi 11 giờ 30 phút cùng ngày. Hành vi nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 – Ninh Bình đã truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến chế độ độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước. Việc bị cáo tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng là nguyên nhân trực tiếp làm gia tăng các tệ nạn xã hội, gây mất trật tự trị an tại địa phương, gây dư luận xấu trong nhân dân. Do đó cần phải xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật hình sự để răn đe, giáo dục bị cáo và đấu tranh phòng ngừa chung.
Về nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự trong vụ án này bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã khai báo thành khẩn, thái độ ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, đặc điểm nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đã được phân tích ở trên, xét cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để bị cáo học tập, cải tạo thành công dân có ích cho gia đình và xã hội như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên toà hôm nay là phù hợp.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự, bị cáo còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000đ đến 500.000.000đ. Tuy nhiên, theo lời khai của bị cáo cũng như các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đều thể hiện, bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, không có tài sản riêng. Do đó, không áp dụng hình phạt tiền là hình phạt bổ sung đối với bị cáo như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên toà là phù hợp.
Về xử lý vật chứng:
- Đối với số ma tuý trong 01 túi niêm phong mã số PS3 24269806 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình hoàn trả sau giám định là ma túy, loại Heroine là vật nhà nước cấm tàng trữ, sử dụng nên cần tịch thu tiêu huỷ.
- Đối với xe mô tô HONDA LEAD màu đen, biển số 18L1-458.48 qua điều tra xác định Đoàn Văn T mượn của chị Đoàn Thị Thanh M là con gái bị cáo. Chị Mừng không biết T mượn để đi mua ma tuý nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho chị Mừng quản lý và sử dụng là phù hợp.
Về vấn đề khác: Đối với người đàn ông bán ma túy cho Đoàn Văn T ngày 16/12/2025, do bị cáo không xác định được tên, địa chỉ cụ thể nên không có căn cứ xử lý là phù hợp.
Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự;
1.1. Tuyên bố bị cáo Đoàn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
1.2. Xử phạt Đoàn Văn T 48 (Bốn mươi tám) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 17/12/2025.
2. Xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy 01 túi niêm phong, mã số: PS3 24269806 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình.
(Vật chứng nêu trên được mô tả như Biên bản bàn giao nhận vật chứng ngày 03/3/2026 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Ninh Bình và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 11 – Ninh Bình).
3. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.
Buộc bị cáo Đoàn Văn T phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Căn cứ vào các Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hạn thi hành án thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND + VKSND Ninh Bình;
THẨM PHÁN- CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
- VKSND khu vực 11;
- Công an tỉnh Ninh Bình;
- THADS tỉnh Ninh Bình;
- UBND xã R;
- Bị cáo;
- Hồ sơ vụ án.
Nguyễn Văn Đính THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Đức Phông
Lưu Văn Đê
Nguyễn Văn Đính
| Nơi nhận: - TAND + VKSND Ninh Bình; - VKSND khu vực 11; - Công an tỉnh Ninh Bình; - THADS tỉnh Ninh Bình; - UBND xã Nghĩa Sơn; - Bị cáo; - Hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Văn Đính |