vanban.org

Bản án 35/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

{1} Về tình cảm: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho chị Trịnh Thị Tú A được ly hôn anh Nguyễn Bá T .

{2} Về con chung và nghĩa vụ đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung: Vợ chồng có 01 con chung là cháu Nguyễn Bá Đức P , sinh ngày 24/8/2021. Giao con chung là cháu Nguyễn Bá Đức P cho anh Nguyễn Bá T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc sau khi li hôn. Chưa giải quyết nghĩa vụ đóng góp nuôi con chung do các đư… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trịnh Thị Tú A - Nguyễn Bá T - Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? {1} Về tình cảm: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho chị Trịnh Thị Tú A được ly hôn anh Nguyễn Bá T .
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 2- NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số 35/2026/HNGĐ- ST
Ngày 25-3-2026
(V/v kiện xin li hôn và tranh
chấp quyền nuôi con)

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2- NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đinh Loan Hòa

Các Hội thẩm nhân dân: ông Lê Quang Hòa và ông Nguyễn Xuân Vinh

- Thư ký phiên tòa: ông Đinh Xuân Giáp- Thẩm tra viên Tòa án nhân dân khu vực 2- Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2- Nghệ An tham gia phiên toà: ông Trần Hoàng Minh- Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 3 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2- Nghệ An mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 31/2026/TLST-HNGĐ ngày 16/01/2026 về việc “kiện xin li hôn, quyền nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 16/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 3 năm 2026 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: chị Trịnh Thị Tú A , sinh năm 2002; CCCD: xxxxxxxxxxxx

Địa chỉ: xóm Đ , xã Đ , tỉnh Nghệ An. Vắng mặt và có đơn xin vắng mặt.

- Bị đơn: anh Nguyễn Bá T , sinh năm 1997; CCCD: xxxxxxxxxxxx

Địa chỉ: xóm X , xã H , huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An (nay là xã Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An); Vắng mặt và có đơn xin vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 08/01/2026 và các lời khai, trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Trịnh Thị Tú A trình bày: Ngày 26/01/2022, chị và anh Nguyễn Bá T cưới và đăng kí kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đồng Văn, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An; Vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn do quan điểm sống bất đồng. Hiện tại, xét thấy tình cảm không còn, nên chị làm đơn xin li hôn với anh Nguyễn Bá T .

Về con chung: vợ chồng có 01 con chung là cháu Nguyễn Bá Đức P , sinh ngày 24/8/2021. Từ trước đến nay do chị đi làm ăn ở xa nên cháu P sinh sống cùng anh Nguyễn Bá T ; Nay, chị xin li hôn và có nguyện vọng cho cháu được tiếp tục ở với anh để được anh tiếp tục chăm sóc trọn vẹn như hiện tại và các bên chưa yêu cầu thực hiện nghĩa vụ đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản: không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ và vay nợ: không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí: chị xin chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Bị đơn là anh Nguyễn Bá T có bản tự khai và giấy xin vắng mặt tại phiên tòa. Tại bản khai, anh trình bày: anh và chị Tú A kết hôn vào ngày 26/01/2022 và có đăng kí tại Ủy ban nhân dân xã Đồng Văn, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An. Anh thừa nhận vợ chồng đã bắt đầu có mâu thuẫn từ năm 2025 và gia đình hai bên nhiều lần hòa giải nhưng không thành; Vợ chồng li thân từ tháng 12 năm 2025; Hiện nay, anh vẫn mong muốn vợ chồng đoàn tụ để nuôi con và là người theo đạo Công giáo nên anh không đồng ý li hôn.

Về con, anh cũng công nhận vợ chồng có 1 con chung là cháu Nguyễn Bá Đức P , sinh ngày 24/8/2021; Anh đang trực tiếp nuôi dưỡng cháu, nếu phải li hôn thì anh yêu cầu giao con cho anh tiếp tục nuôi dưỡng. Anh không yêu cầu chị Tú A đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản: không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ và vay nợ: không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tòa án đã tiến hành xác minh tại chính quyền địa phương thì được biết: do mẫu thuẫn nên chị Trịnh Thị Tú A đã vào Nam làm ăn và giao con là cháu Nguyễn Bá Đức P cho anh nuôi dưỡng. Anh T có tiệm tạp hóa, có thu nhập ổn định và chăm sóc, giáo dục con tốt, ổn định từ trước tới nay; Địa phương không nắm rõ nguyên nhân mâu thuẫn của vợ chồng.

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2- Nghệ An phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng của những người tiến hành và người tham gia tố tụng từ khi thụ lý vụ án cho đến trước lúc nghị án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Việc thụ lý đúng thẩm quyền; xác định đúng tư cách người tham gia tố tụng; chuyển hồ sơ, Quyết định đưa vụ án ra xét xử cho Viện kiểm sát, thời hạn giải quyết tuân thủ quy định của pháp luật. Việc xét xử vắng mặt đương sự đúng quy định.

Đại diện Viện kiểm sát có quan điểm đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56, 80, 81, 82 và 83 và Điều 84 luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận đơn yêu cầu của chị Trịnh Thị Tú A , cho chị được li hôn anh Nguyễn Bá T ; giao cháu Nguyễn Bá Đức P cho anh Nguyễn Bá T tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng như trước nay theo nguyện vọng chung của cả bố và mẹ; không giải quyết về nội dung đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung và tài sản chung của vợ chồng do các bên chưa có yêu cầu. Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết án phí theo quy định chung.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận, Hội đồng xét xử nhận định:

{1} Về thủ tục tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thu thập lời khai các đương sự, họp phiên công khai chứng cứ, tiến hành hòa giải hợp lệ; việc các đương sự cung cấp tài liệu, chứng cứ đúng trình tự quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Bị đơn xin xét xử vắng mặt nên Tòa án mở phiên tòa để xét xử theo quy định.

{2} Về nội dung:

- Về quan hệ hôn nhân: Xét năm 2022, anh Nguyễn Bá T và chị Trịnh Thị Tú A có đăng kí kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đồng Văn, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An. Do vậy, đây là hôn nhân hợp pháp, không vi phạm quy định tại luật Hôn nhân và Gia đình. Theo lời khai của đương sự: hai vợ chồng phát sinh mâu thuẫn từ năm 2025 và sống li thân cho đến nay. Do tình cảm không còn nên chị xin li hôn. Xét nguyện vọng đó là phù hợp, thỏa mãn quy định của pháp luật và đạo lý xã hội nên cần chấp nhận để cho chị được li hôn anh Nguyễn Bá T .

Về con chung: Xét vợ chồng có 01 con chung là cháu Nguyễn Bá Đức P , sinh ngày 24/8/2021. Chị Trịnh Thị Tú A nhường quyền nuôi con cho anh T ; Anh Nguyễn Bá T cũng có nguyện vọng được nuôi con và thực tế cháu P đang sinh sống cùng anh. Xét đây là sự thỏa thuận tự nguyện nên cần được chấp nhận.

Về nghĩa vụ đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con: do cả hai chưa có yêu cầu nên Tòa án chưa xem xét.

Về tài sản chung, nợ và cho vay nợ chung: không giải quyết.

{3} Về án phí: chị Trịnh Thị Tú A phải chịu 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm;

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 56; 80, 81, 82, 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227 bộ luật Tố tụng Dân sự;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.12.2016 về Lệ phí, án phí Tòa án;

Xử:

{1} Về tình cảm: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho chị Trịnh Thị Tú A được ly hôn anh Nguyễn Bá T .

{2} Về con chung và nghĩa vụ đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung: Vợ chồng có 01 con chung là cháu Nguyễn Bá Đức P , sinh ngày 24/8/2021.

Giao con chung là cháu Nguyễn Bá Đức P cho anh Nguyễn Bá T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc sau khi li hôn. Chưa giải quyết nghĩa vụ đóng góp nuôi con chung do các đương sự chưa có yêu cầu.

Chị Trịnh Thị Tú A có quyền đi lại thăm nom con chung không ai được cản trở. Nếu chị Trịnh Thị Tú A lạm dụng việc thăm nom con chung để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục con chung thì anh Nguyễn Bá T có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con chung của chị Tú A .

Quyết định này được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án và tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 9 Luật Thi hành án Dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.

Trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 luật Hôn nhân- Gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

{3} Về tài sản chung: không giải quyết

{4} Về án phí: chị Trịnh Thị Tú A phải chịu 300.000đồng án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã đóng tại Thi hành án Dân sự khu vực 2- Nghệ An theo biên lai số 0000321 ngày 15/01/2026; chị Trịnh Thị Tú A đã nộp đủ án phí.

{5} Nguyên đơn, Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ