vanban.org

Bản án 35/2026/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Ng.

Buộc bà Nguyễn Thị X (tên thường gọi Nguyễn Thị Là) có nghĩa vụ thanh toán cho bà Nguyễn Thị Ng số tiền vốn và lãi là 216.235.616 (Hai trăm mười sáu triệu, hai trăm ba mươi lăm nghìn, sáu trăm mười sáu) đồng. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án không thi hành đầy đủ kho… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "nG xa"
  • Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Ng.
  • Căn cứ chính? Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 184 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 15 – AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 35/2026/DS-ST
Ngày: 29/5/2026
“V/v tranh chấp dân sự, hợp đồng
vay tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 15 – AN GIANG

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Phong Phi.

Các hội thẩm nhân dân: Ông Trương Văn Hăng và ông Hồ Văn Ức.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Vũ – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 15 – An Giang, tỉnh An Giang.

- Đại diện viên kiểm sát nhân dân khu vực 15 – An Giang tham gia phiên tòa: Không.

Ngày 28 tháng 5 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 15 – An Giang, tỉnh An Giang mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 12/2026/TLST

- DS, ngày 27 tháng 01 năm 2026 về việc: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 124/2026/QĐXX - ST ngày 20 tháng 4 năm 2026 và Quyết định hoãn phiên tòa số 114/2026/QĐST-DS ngày 12 tháng 5 năm 2026 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Ng, sinh năm 1972; Địa chỉ: Khóm Vĩnh Bình, thị trấn Vĩnh Thạnh, huyện Châu Phú (nay là khóm Vĩnh Bình, xã Long Thạnh), tỉnh An Giang. Địa chỉ liên hệ: Số 27/4 đường An Phú Đông 1, phường An Phú Đông, thành phố Hồ Chí Minh. CCCD: xxxxxxxxxxxx.

Người đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị Ng là bà Phan Thị Diễm Trinh, CCCD: xxxxxxxxxxxx, địa chỉ: Tổ 10, khu phố An Lợi, phường Hòa Lợi, thành phố Hồ Chí Minh, địa chỉ liên hệ: Số 27/4 đường An Phú Đông 1, phường An Phú Đông, thành phố Hồ Chí Minh. Bà Huỳnh Châu Pha, địa chỉ: Số 795 Nguyễn Thị Định, phường Rạch Giá, tỉnh An Giang, địa chỉ liên hệ: Số 24 đường Vành Đai Đông Bắc 1, khu nhà ở Phú Mỹ Hiệp, phường Tân Đông Hiệp, thành phố Hồ Chí Minh.

Bị đơn: Bà Nguyễn Thị X (Nguyễn Thị Là), sinh năm 1971, địa chỉ: Ấp 5, xã Vĩnh Xương, thị xã Tân Châu (nay là ấp 5, xã Vĩnh Xương, tỉnh An Giang), CCCD: xxxxxxxxxxxx.

(Đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện và quá trình giải quyết tại Tòa án, đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị Ng, bà Phan Thị Diễm Trinh trình bày: Vào cuối năm 2024, bà Nguyễn Thị Ng có cho bà Nguyễn Thị X (tên thường gọi là Nguyễn Thị Là) (Sau đây gọi tắt là bà Là) vay tổng số tiền là 190.000.000 (Một trăm chín mươi triệu) đồng, cụ thể:

Ngày 09/12/2024 bà Là có hỏi vay 160.000.000 (Một trăm sáu mươi triệu) đồng.

Ngày 25/12/2024 bà Là tiếp tục vay thêm 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu) đồng.

Việc vay mượn được lập giấy tay và bà Là người trực tiếp viết và ký tên. Ngoài ra, khi lập giấy vay kể trên, hai bên có thỏa thuận miệng về thời hạn trả nợ là 01 tháng kể từ ngày vay đầu (09/12/2024) tức là đến ngày 09/01/2025 bà Là phải trả cho bà Ng tổng số tiền đã vay là 190.000.000 đồng. Hơn thế nữa, để tạo lòng tin cho bà Ng, bà Là cho biết bà hiện đang sở hữu nhiều động sản ở Bình Phước và An Giang để bà Ng an tâm cho bà Là vay tiền.

Đến hạn thanh toán, bà Ng liên hệ để yêu cầu bà Là thực hiện nghĩa vụ nhưng bà Là cố tình né tránh bà Ng nhằm mục đích trốn tránh nghĩa vụ trả tiền của mình. Hơn thế nữa, sau nhiều lần bà Ng liên hệ thì bà Là có hành động thách thức yêu cầu bà Ng khởi kiện và từ chối trả tiền cho bà Ng.

Xét thấy, hành vi trên bà Là vay tiền của bà Ng nhưng không thiện chí trả tiền, xâm phạm trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà Ng, đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán cho bà Ng là trái với quy định pháp luật.

Nay đề nghị Tòa án nhân dân khu vực 15 - An Giang giải quyết: Buộc bà Nguyễn Thị X (tên thường gọi Nguyễn Thị Là) hoàn trả một lần toàn bộ và đầy đủ số tiền 205.876.712 (Hai trăm lẻ năm triệu, tám trăm bảy mươi sáu nghìn, bảy trăm mười hai) đồng cho bà Nguyễn Thị Ng, bao gồm:

Số tiền gốc là 190.000.000 (Một trăm chín mươi triệu) đồng;

Số tiền lãi chậm trả tạm tính trên số nợ gốc 190.000.000 đồng, với mức lãi suất cụ thể là 10%/năm từ ngày 10/01/2025 đến thời điểm hiện nay (tạm tính là ngày 10/11/2025 là: 190.000.000 đồng x 10%/năm x 305 ngày = 15.876.712 (Mười lăm triệu, tám trăm bảy mươi sáu nghìn, bảy trăm mười hai)) đồng.

Yêu cầu tiếp tục tính lãi tiếp tục kể từ ngày 11/11/2025 cho đến khi giải quyết xong vụ án.

Bị đơn bà Nguyễn Thị X (tên thường gọi là Nguyễn Thị Là) không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị Ng.

Tòa án đã thực hiện thủ tục công khai chứng cứ và hòa giải nhằm tạo điều kiện cho các đương sự thỏa thuận cách giải quyết vụ án nhưng bị đơn vắng mặt, vì vậy không thể tiến hành hòa giải được.

Tòa án thông báo kết quả về việc kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ ngày 16/4/2026 cho bà Nguyễn Thị X (tên thường gọi là Nguyễn Thị Là) theo quy định của pháp luật để bà X (Là) thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình nhưng bà X (Là) vẫn vắng mặt.

Tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền của bà Ng có đơn xét xử vắng mặt, bà X (Là) vắng mặt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định.

Về thời hiệu - thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Nguyễn Thị Ng khởi kiện yêu cầu bị đơn bà Nguyễn Thị X (tên thường gọi Nguyễn Thị Là) có nghĩa vụ trả khoản tiền vay mà bà X (Là) còn thiếu và lãi suất theo quy định của pháp luật, bị đơn có nơi cư trú tại xã Vĩnh Xương, tỉnh An Giang. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 và Điều 184 của Bộ luật tố tụng dân sự, đây là tranh chấp dân sự về hợp đồng vay tài sản, còn trong thời hiệu khởi kiện và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 15 – An Giang.

Về việc vắng mặt của đương sự: Bà Nguyễn Thị X (tên thường gọi Nguyễn Thị Là) được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do. Pháp luật tố tụng luôn đổi mới và bảo vệ người yếu thế, tuy nhiên, pháp luật luôn luôn bảo vệ người dân biết tôn trọng pháp luật, tôn trọng sự thật, lẽ công bằng, bà X đã được triệu tập hợp lệ đúng nơi cư trú, nhưng cố tình lẫn tránh, không ý kiến, không tham gia hòa giải, nên Toà án xem như bà từ bỏ nghĩa vụ tham gia tranh tụng và tố tụng trong vụ án này. Căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà X (Là) theo quy định.

Xét về nội dung vụ án: Do cần tiền để phục vụ đời sống, nhu cầu cá nhân nên ngày 09/12/2024 và ngày 25/12/2024 bà X (Là) có hỏi vay của bà Ng 02 lần với tổng số tiền 190.000.000 (Một trăm chín mươi triệu) đồng, hai bên có thỏa thuận miệng về thời hạn trả nợ là 01 tháng kể từ ngày vay đầu (09/12/2024) tức là đến ngày 09/01/2025 bà Là phải trả cho bà Ng tổng số tiền đã vay là 190.000.000 đồng nhưng đến nay không trả nợ cho bà Ng. Do bà X (Là) vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên bà Nguyễn Thị Ng khởi kiện yêu cầu bà Nguyễn Thị X (tên thường gọi Nguyễn Thị Là) thanh toán khoản nợ gồm tiền vốn gốc và tiền lãi phát sinh theo hợp đồng.

Xét về hình thức: Giao dịch dân sự cho vay giữa các đương sự có lập thành văn bản và được xác lập trên cơ sở tự nguyện, đồng thời không vi phạm những điều cấm của pháp luật. Do bà X (Là) vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên bà Ng khởi kiện là phù hợp với quy định tại khoản 1 và 5 Điều 466 Bộ luật dân sự.

Về nghĩa vụ trả nợ, lãi suất và số tiền phải trả:

Về nghĩa vụ trả nợ: Đại diện theo uỷ quyền của bà Ng yêu cầu bà X (Là) trả nợ. Mặc dù bà X (Là) không tham gia hòa giải, tuy nhiên căn cứ vào chứng cứ do đại diện bà Ng giao nộp cho Tòa án, bà X (Là) có vay tiền, có cam kết thực hiện nghĩa vụ trả nợ nhưng không trả nợ theo đúng quy định. Nay đại diện theo ủy quyền của bà Ng yêu cầu bà X (Là) phải trả cho bà Ng số nợ gốc và lãi phát sinh, Hội đồng xét xử nhận thấy việc bà X (Là) vay của bà Ng số tiền 190.000.000 đồng và không trả nợ là vi phạm nghĩa vụ trả nợ, vì vậy có căn cứ buộc bà X (Là) có nghĩa vụ trả khoản nợ cho bà Ng.

Về số tiền vốn: Theo các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp thì bà Ng còn nợ 190.000.000 đồng vốn gốc. Căn cứ Điều 466 Bộ luật dân sự, buộc bà X (Là) có nghĩa vụ trả cho Ng số tiền 190.000.000 đồng.

Về lãi suất: Tại biên nhận nợ bà Ng cung cấp không thể hiện việc bà Ng cho bà X (Là) vay có lãi suất nhưng trong quá trình vay bà X (Là) không thực nghĩa vụ trả nợ gốc nên phát sinh tranh chấp đều này ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà Ng nên bà Ng yêu cầu tính lãi suất phù hợp với khoản 4 Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015.

Về thời gian tính lãi và số tiền lãi phải trả: Xét thấy yêu cầu của đại diện theo ủy quyền của bà Ng đề nghị Tòa án tính lãi đối với số nợ gốc từ ngày 10/01/2025 đến thời điểm hiện nay (tạm tính ngày 29/5/2026 là: 190.000.000 đồng x 10%/năm x 504 ngày = 26.235.616 (Hai mươi sáu triệu, hai trăm ba mươi lăm nghìn, sáu trăm mười sáu)) đồng.

Như vậy, số tiền bà X (Là) phải trả gồm 190.000.000 đồng vốn + 26.235.616 đồng tiền lãi = 216.235.616 đồng.

Về thời gian, phương thức thanh toán: Sẽ được xem xét, giải quyết tại giai đoạn thi hành án khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Về án phí: Do yêu cầu của bà Ng được chấp nhận nên không phải chịu án phí; hoàn trả lại tiền tạm ứng án phí mà bà Ng đã nộp. Bà X (Là) phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Khoản 3 Điều 26, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm c Khoản 1 Điều 39, Điều 147, 228, 273 và Điều 280 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 463, 466, 468 và 688 Bộ luật dân sự;

Căn cứ khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 ngày 30/12/2016.

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Ng.

Buộc bà Nguyễn Thị X (tên thường gọi Nguyễn Thị Là) có nghĩa vụ thanh toán cho bà Nguyễn Thị Ng số tiền vốn và lãi là 216.235.616 (Hai trăm mười sáu triệu, hai trăm ba mươi lăm nghìn, sáu trăm mười sáu) đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án không thi hành đầy đủ khoản tiền nêu trên thì còn phải chịu lãi phát sinh do chậm thực hiện nghĩa vụ theo lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian và số tiền chưa thi hành.

Về án phí: Bà Nguyễn Thị X (tên thường gọi Nguyễn Thị Là) phải chịu 10.811.000 (Mười triệu, tám trăm mười một nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Thi hành án dân sự tỉnh An Giang (Phòng thi hành án dân sự khu vực 15 – An Giang) hoàn trả cho bà Nguyễn Thị Ng số tiền 5.146.918 (Năm triệu, một trăm bốn mươi sáu nghìn, chín trăm mười tám) đồng tạm ứng án phí theo biên lai thu số 201 ngày 13 tháng 01 năm 2026.

Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (29/5/2025). Riêng đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc vắng mặt khi tuyên án được quyền kháng cáo trong thời hạn trên kể từ khi nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại nơi cư trú.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ