vanban.org

Bản án 35/2025/HSST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Đặng Đình T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”,

Xử phạt bị cáo Đặng Đình T 05 (năm) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 31/3/2025. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong số 207MT/PC09 của Phòng Kỹ … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đặng Đình T phạm tội mua bán trái phép chất ma tú - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của B…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đặng Đình T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”,
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁNNHÂN DÂN
KHU VỰC 4 - HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 35/2025/HS-ST
Ngày 29-9-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Như Quỳnh

Các Hội thẩm nhân dân:

- Ông Đỗ Văn Tân,

- Bà Đoàn Thị Tiến;

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tất Thành - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 4 - Hải Phòng.

- Người tiến hành tố tụng khác tại điểm cầu thành phần: Ông Nguyễn Văn Dũng - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 4 - Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Minh Thảo - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 9 năm 2025, tại điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 4 - Hải Phòng và tại điểm cầu thành phần Trại tạm giam số 1 Công an thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai theo hình thức trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 25/2025/TLST-HS ngày 11 tháng 9 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 29/2025/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 9 năm 2025 đối với bị cáo:

Đặng Đình T, sinh ngày 20/11/1980 tại Hải Phòng; nơi cư trú: phường C, quận H (nay là phường H), thành phố Hải Phòng nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: Lớp 12/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Đặng Văn T1 và bà Phạm Thị T2; có vợ là Nguyễn Thị T3 (đã ly hôn) và 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ ngày 31/3/2025 đến ngày 09/4/2025 chuyển tạm giam; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 10 giờ ngày 31/3/2025, bị cáo đang ở nhà thì có một người nam giới không quen biết sử dụng số điện thoại 0587.866.990 gọi và nhắn tin đến số điện thoại 0969.433.985 của bị cáo để hỏi mua ma tuý với giá 300.000 đồng/ túi. Bị cáo đồng ý và hẹn giao ma tuý tại khu vực đầu ngõ số 312 Ngô Gia Tự, phường Hải An, Hải Phòng. Khoảng 11 giờ 30 phút cùng ngày, bị cáo cầm theo 03 túi ma tuý được cuộn, dán bằng băng dính đen đi bộ ra đầu ngõ 312 Ngô Gia Tự thì bị Công an phường Cát Bi, quận Hải An (nay là phường Hải An) thành phố Hải Phòng bắt quả tang và thu giữ trong lòng bàn tay phải của bị cáo T 01 bọc băng dính màu đen, bên trong có 03 túi nilon màu trắng kích thước 1 x 2cm đều đựng chất bột màu trắng được bọc ngoài một lớp giấy màu trắng. Bị cáo khai nhận đó là ma tuý Heroine do bị cáo mua ngày 29/3/2025 tại đường tàu Trần Nguyên Hãn, bị cáo mua của người đàn ông tên Đạo 01 túi ma tuý Heroine với giá 1.850.000 đồng, với mục đích để bán kiếm lời.

Khám xét khẩn cấp tại chỗ ở của bị cáo, cơ quan Cảnh sát điều tra thu giữ: 01 miếng kính hình tròn đường kính 09cm; 01 dao lam bằng kim loại; 06 túi nilon chưa chất bột màu trắng được bọc ngoài một lớp giấy màu trắng quấn bằng băng dính màu đen; 01 túi nilon mép dán màu trắng kích thước 10,5x7cm bên trong có 01 túi nilon mép dán màu đỏ kích thước 4 x7cm trong chứa chất bột màu trắng dạng cục; 01 vỏ túi nilon mép dán màu cam kích thước 5 x7cm bên trong chứa các mảnh túi nilon; 01 cân điện tử màu đen bạc; 01 cuộn băng dính đen; 01 điện thoại di động nhãn hiệu REALME C12 màu xanh lắp sim số 0969.433.985.

Tại bản kết luận giám định số 207/KL-KTHS ngày 06/4/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng kết luận:

Chất bột màu trắng của mẫu QT gửi giám định là ma tuý, có khối lượng 0,42 gam, là loại Heroine; Chất bột màu trắng của mẫu KX01 gửi giám định là ma tuý, có khối lượng 1,19 gam, là loại Heroine; Chất bột màu trắng của mẫu KX02 gửi giám định là ma tuý, có khối lượng 0,58 gam, là loại Heroine; Chất bột màu trắng của mẫu KX03 gửi giám định là ma tuý, có khối lượng 1,23 gam, là loại Heroine.

Tại bản kết luận giám định số 1831/KL-KTHS ngày 15/7/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng và Biên bản kiểm tra điện thoại thu giữ của bị cáo T thể hiện nội dung cuộc gọi, tin nhắn giữa bị cáo T và người mua ma tuý liên quan đến giao dịch ma tuý.

Bản Cáo trạng số 04/CT-VKS ngày 23/7/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Hải Phòng truy tố bị cáo về tội Mua bán trái phép chất ma tuý theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên. Bị cáo khai nhận toàn bộ số ma túy do cơ quan Công an thu giữ của bị cáo có nguồn gốc do bị cáo mua của một người đàn ông không quen biết tên là Đạo ở đường tàu Trần Nguyên Hãn với giá 1.850.000 đồng với mục đích để bán kiếm lời. Số ma túy bị cáo mua được, bị cáo đã sử dụng một ít, số ma túy còn lại bị cáo chia vào nhiều túi nion nhỏ bọc giấy trắng và băng dính đen bên ngoài để khi ai hỏi mua thì bán lại với giá 300.000 đồng/túi. Khi bị cáo đang đợi người mua đến để giao ma túy tại ngõ 312 Ngô Gia Tự, Hải An, Hải Phòng thì bị Công an bắt quả tang.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố luận tội phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Đặng Đình T từ 05 năm 03 tháng đến 05 năm 09 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận, đồng thời thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản Cáo trạng và luận tội của Viện Kiểm sát; bị cáo biết hành vi của mình là sai, là vi phạm pháp luật và rất hối hận, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt đối với bị cáo để bị cáo sớm trở về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Hải Phòng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Hải Phòng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác trong vụ án, không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

- Về tội danh:

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa, phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp Cáo trạng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Qua đó xác định, từ ngày 29/3/2025 tại nhà của mình, bị cáo đã có hành vi cất giữ trái phép 3,42 gam ma tuý loại Heroine với mục đích bán cho khách để kiếm lời. Đồng thời vào khoảng 11 giờ 30 phút ngày 31/3/2025, khi bị cáo mang 03 túi nilon bên trong chứa 0,42 gam ma tuý đến khu vực đầu ngõ 312 Ngô Gia Tự, Hải An, Hải Phòng để bán cho khách thì bị Tổ công tác Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý bắt quả tang. Như vậy có đủ cơ sở để kết luận: bị cáo Đặng Đình T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Hải Phòng truy tố bị cáo là có cơ sở, đúng người, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo vi phạm nghiêm trọng pháp luật hình sự, gây mất trật tự trị an, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh chính trị của địa phương. Bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý, xâm phạm đến khách thể là chính sách quản lý độc quyền các chất ma túy, chất gây nghiện của Nhà nước. Vì vậy cần cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhất định mới đủ tính răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 phong bì niêm phong số 207MT/PC09 của Phòng Kỹ thuật, Công an thành phố Hải Phòng bên trong có ma tuý còn lại sau giám định cùng toàn bộ vỏ bao gói đựng ma túy; 01 miếng kính hình tròn đường kính 9cm; 01 dao lam kim loại; 01 vỏ túi nilon mép dán màu cam kích thước 5 x7cm trong chứa các mảnh túi nilon; 01 cân điện tử màu đen bạc; 01 cuộn băng dính màu đen và 01 sim điện thoại cần tịch thu tiêu huỷ.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu REALME C12, màu xanh, cần tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước.

Về các vấn đề khác:

Đối với người nam giới sử dụng số điện thoại 0587.866.990 liên hệ để mua ma tuý của bị cáo, hiện chưa xác định được tên, địa chỉ chủ thuê bao, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã có văn bản gửi đến Công ty Cổ phần Viễn thông di động Vietnammobile nhưng chưa có kết quả. Khi có kết quả, Cơ quan điều tra tiếp tục làm rõ xử lý sau. Đối với người đàn ông mang tên Đạo bán ma tuý cho bị cáo, không xác định được lai lịch, địa chỉ nên chưa đủ căn cứ để xử lý. Việc xử lý của Cơ quan điều tra là hoàn toàn phù hợp với quy định của pháp luật hình sự.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự,

- Tuyên bố bị cáo Đặng Đình T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”,

- Xử phạt bị cáo Đặng Đình T 05 (năm) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 31/3/2025.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong số 207MT/PC09 của Phòng Kỹ thuật, Công an thành phố Hải Phòng bên trong có chứa ma tuý còn lại sau giám định cùng toàn bộ vỏ bao gói của các mẫu gửi giám định; 01 miếng kính hình tròn đường kính 9cm; 01 dao lam kim loại; 01 vỏ túi nilon mép dán màu cam kích thước 5 x7cm trong chứa các mảnh túi nilon; 01 cân điện tử màu đen bạc; 01 cuộn băng dính màu đen và 01 sim điện thoại di động; tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu REALME C12 (đặc điểm vật chứng theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 11/9/2025 giữa cơ quan CSĐT Công an thành phố Hải Phòng và Phòng THADS khu vực 4 - Hải Phòng).

Về án phí hình sự: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án: Bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Về quyền yêu cầu thi hành án: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ