- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đoàn Ngọc Đ phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều củ…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh và mức hình phạt: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG TỈNH CAO BẰNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 35/2025/HSST Ngày 10/4/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG, TỈNH CAO BẰNG:
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Hiền
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trịnh Văn Phương
Ông Long Văn Thanh
- Thư ký phiên toà: Ông Lục Đức Long – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng tham gia phiên toà: Bà Nông Thị Quỳnh Như - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 4 năm 2025, tại điểm cầu trung tâm - Phòng xét xử Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng, điểm cầu thành phần - Phòng hỏi cung số 1, phân trại tạm giam khu vực thành phố C, tỉnh Cao Bằng xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 35/2025/HSST ngày 19 tháng 3 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 59/2025/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:
Đoàn Ngọc Đ - sinh ngày: 01 tháng 9 năm 1979 tại thành phố C, tỉnh Cao Bằng; Nơi cư trú: tổ A, phường N, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá: 08/12; dân tộc: Tày; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đoàn Ngọc X (đã chết) và bà Lê Thị P - sinh năm 1943; có vợ là Đinh Thị H, sinh năm 1980 và 02 con, con lớn sinh năm 2003 và con nhỏ sinh năm 2009.
Tiền án: không.
Tiền sự: 01 tiền sự, năm 2022 bị Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 15 tháng.
Đặc điểm nhân thân: năm 2015 bị Công an thành phố C xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Trộm cắp tài sản.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/02/2025, hiện nay đang giam tại Phân trại tạm giam khu vực thành phố C; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 12 giờ 20 phút ngày 07/02/2025 Công an phường N, thành phố C, tỉnh Cao Bằng đang làm nhiệm vụ tại tổ B, phường N, thành phố C thì phát hiện Đoàn Ngọc Đ (sinh năm 1979; trú tại: tổ A, phường N, thành phố C, tỉnh Cao Bằng) có biểu hiện nghi vấn phạm tội về ma túy nên tiến hành kiểm tra, phát hiện, thu giữ: 01 (Một) gói giấy bạc màu vàng bên trong chứa chất bột màu trắng dạng bột lẫn cục; 01 (Một) khăn ống bằng len màu xanh than và 01 (một) điện thoại di động. Đoàn Ngọc Đ khai số chất bột màu trắng bị thu giữ là ma túy Đ vừa mua để sử dụng.
Cùng ngày cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố C mở niêm phong, cân xác định khối lượng tang vật thu giữ của Đoàn Ngọc Đ có tổng khối lượng 0,21g (Không phẩy hai một gam).
Bản kết luận giám định số 147/KL-KTHS ngày 14/02/2025 của Phòng K Công an tỉnh C kết luận: mẫu chất bột màu trắng bên trong phong bì niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Heroine (H).
Quá trình điều tra và tại phiên toà Đoàn Ngọc Đ khai nhận: khoảng 12 giờ 00 phút ngày 07/02/2025 Đ đi bộ từ nhà tại tổ A, phường N, thành phố C đến khu vực Bến xe khách cũ thuộc phường S, thành phố C, tỉnh Cao Bằng để tìm mua ma túy. Tại đây, Đ gặp một người đàn ông không quen biết khoảng 40 tuổi, có đặc điểm giống người nghiện nên hỏi mua ma túy với số tiền 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng), người đàn ông nhận tiền rồi đi đâu đó khoảng 10 phút sau quay lại đưa cho Đ (Một) gói giấy bạc màu vàng bên trong chứa Heroine. Đ giấu gói ma tuý vào trong chiếc khăn len đang quàng trên cổ rồi đi bộ về nhà. Khi gần về đến nhà thì bị lực lượng Công an phát hiện, bắt quả tang.
Tại bản cáo trạng số 38/CT-VKSTP ngày 19/3/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng quyết định truy tố bị cáo Đoàn Ngọc Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Trong phần tranh luận tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng giữ nguyên quyết định truy tố và trình bày quan điểm về nguyên nhân phạm tội, hướng giải quyết vụ án như sau: bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và nhận thức rõ ma túy là vật cấm tàng trữ, lưu hành nhưng để phục vụ nhu cầu sử dụng ma túy của bản thân, bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi xâm phạm đến chế độ quản lý các chất ma túy của Nhà nước. Bị cáo có nhân thân xấu và đang có 01 tiền sự nên cần xử lý nghiên khắc, tuy nhiên quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo; bố, mẹ bị cáo đều được tặng thưởng Huân chương kháng chiến, là người có công với cách mạng. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật hình sự, tuyên bố Đoàn Ngọc Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, xử phạt bị cáo từ 15 tháng đến 18 tháng tù, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng của vụ án: đề nghị tịch thu tiêu hủy vật chứng là ma túy và các vật chứng không còn giá trị sử dụng.
Về án phí: buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định.
Bị cáo nhất trí với kết luận của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng về tội danh, hành vi phạm tội, mức hình phạt và quan điểm xử lý nên không có ý kiến tranh luận.
Khi được nói lời sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét được hưởng mức án thấp nhất để bị cáo có cơ hội trở về để chăm sóc mẹ già và con bị khuyết tật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C, tỉnh Cao Bằng; Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về hành vi phạm tội: Lời khai của bị cáo Đoàn Ngọc Đ phù hợp với các tài liệu, chứng cứ thu thập được trong quá trình điều tra vụ án. Cụ thể như: biên bản bắt người phạm tội quả tang do tổ công tác Công an phường N, thành phố C lập hồi 12 giờ 30 phút ngày 07/02/2025 và các vật chứng thu giữ.
Qua nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm, Hội đồng xét xử nhận định, có đủ căn cứ chứng minh vào hồi 12 giờ 20 phút ngày 07/02/2025 tại khu vực tổ A, phường N, thành phố C, tổ công tác Công an phường N, thành phố C bắt quả tang Đoàn Ngọc Đ đang tàng trữ 0,21g (Không phẩy hai một gam) Heroine để sử dụng cho bản thân.
Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của nhà nước về ma túy. Khi thực hiện hành vi, bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và biết rõ tác hại của ma túy nhưng do xem thường pháp luật và để có ma túy sử dụng nên đã thực thiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng truy tố bị cáo Đoàn Ngọc Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
...
c) H1, C, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 5 gam
...
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. [3]. Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, nhân thân và tình tiết tặng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, đi ngược lại chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước trong cuộc đấu tranh đẩy lùi và bài trừ tệ nạn ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội nên cần xử lý nghiêm khắc để làm gương cho người khác, đồng thời phục vụ công tác phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm ma túy ở địa phương. Nhân thân: bị cáo có nhân thân xấu và đang có 01 tiền sự chưa hết thời hiệu. Tình tiết giảm nhẹ: trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội; bố, mẹ bị cáo đều là người có công với cách mạng nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tình tiết tăng nặng: không có.
. Hình phạt chính:
Hội đồng xét xử xét thấy, mặc dù khối lượng ma tuý bị cáo tàng trữ không quá lớn, bị cáo không có tình tiết tặng nặng, có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nhưng là người có nhân thân xấu nên áp phải áp dụng hình phạt trên mức khởi điểm của khung hình phạt mới tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội.
. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có nghề nghiệp thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo. [6]. Về xử lý vật chứng: Căn cứ quy định tại Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, xét thấy cần tịch thu tiêu hủy vật chứng là ma túy vì là vật bị cấm tàng trữ, lưu hành; đối với các vật chứng còn lại, tại phiên toà bị cáo xác nhận không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu huỷ. [7]. Các nhận định khác: Đối với nguồn gốc số ma túy, Đoàn Ngọc Đ khai mua với một người đàn ông không quen biết tại khu vực Bến xe khách cũ thuộc phường S, thành phố C, quá trình điều tra không xác định được danh tính, nhân thân nên không có căn cứ kiến nghị mở rộng vụ án. [8]. Về nghĩa vụ chịu án phí: Bị cáo Đoàn Ngọc Đ phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Xét đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng tại phiên tòa về tội danh, hình phạt và quan điểm xử lý vật chứng là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và hoàn cảnh kinh tế của bị cáo, nên cần được chấp nhận. Xét đề nghị xin được hưởng mức hình phạt nhẹ nhất của bị cáo là thể hiện sự ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, nên cần được xem xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh và mức hình phạt: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật hình sự. Tuyên bố bị cáo Đoàn Ngọc Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt Đoàn Ngọc Đ 16 tháng tù, thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam 07/02/2025.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự, Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) phong bì niêm phong mặt trước ghi: “Số 147/KL-KTHS, H2 mẫu vụ Đoàn Ngọc Đ, hành vi Tàng trữ trái phép chất ma tuý” (Kèm theo Kết luận giám định số 147/KL-KTHS, ngày 14/02/2025 của Phòng K Công an tỉnh C); 01 (Một) điện thoại di động Masstel loại bàn phím màu xanh, số IMEI (theo quyết định chuyển vật chứng): IMEI 1 352377078011844, số IMEI 2 352377078011851, điện thoại cũ đã qua sử dụng. Do điện thoại không khởi động được nên không kiểm tra thực tế được số IMEI trong máy; 01 (Một) khăn ống bằng len màu xanh than, đã qua sử dụng, có vết rách kích thước 07x02cm. Xác nhận các vật chứng nêu trên đã được chuyển giao cho Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng theo biên bản giao, nhận vật chứng số 72 ngày 21 tháng 3 năm 2025. 3. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Đoàn Ngọc Đ phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) nộp ngân sách Nhà nước. 4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: -Tòa án tỉnh Cao Bằng; - Công an tỉnh Cao Bằng; - Viện kiểm sát tỉnh Cao Bằng; - Sở Tư pháp tỉnh Cao Bằng; - Viện kiểm sát Tp Cao Bằng; - Thi hành án DS Tp Cao Bằng; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ; - Lưu án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Hiền |