vanban.org

Bản án 35/2025/HS-ST — Hình sự

TAND tỉnh Quảng Trị Tuyên án 28/11/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đặng Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, bị cáo Nguyễn Hoàng Thành Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Về hình phạt: Áp dụng điểm h khoản 4 Điều 251; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đặng Văn T 20 (hai mươi) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam, ngày 22/12/2024. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn T cùng đp phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một s…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đặng Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, bị cáo Nguyễn Hoàng Thành Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH QUẢNG BÌNH
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:35/2025/HS-ST
Ngày: 28/11/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Bá Lưu

Thẩm phán: bà Từ Thị Hải Dương

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Hòe; Ông Nguyễn Xuân Thí; Ông Mai Văn Ngọc.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đào Thị Lệ Anh – Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Quảng Bình

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa: Ông Dương Văn Năm - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Quảng Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 20/2025/TLST-HS ngày 08 tháng 4 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 33/2025/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 4 năm 2025 đối với các bị cáo:

1. Đặng Văn T; sinh ngày 27/12/1998; giới tính: nam; nơi cư trú: Thôn Đ, xã Đ, TP. Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: lớp 7/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Đặng Văn T1 và bà Hoàng Thị H; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 08/01/2021, bị Công an xã Đ, thành phố Đồng Hới xử phạt 750.000 đồng về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy; Ngày 12/10/2021, bị Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình xử phạt 15 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Đặng Văn T đã chấp hành án phạt tù tại Trại giam Nghĩa An xong ngày 08/7/2022.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/12/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Bình; có mặt theo Lệnh trích xuất.

2. Nguyễn Hoàng Thành Đ, sinh ngày 12/4/2003; giới tính: nam; nơi cư trú: Tổ dân phố 7, phường Hải Thành, TP. Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; trình độ học vấn: lớp 7/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Nguyễn Văn L (đã chết) và bà Hoàng Thị L; Vợ con chưa có; tiền án, tiền sự: không.

Về nhân thân: Ngày 13/10/2017, bị Công an thành phố Đồng Hới phạt vi phạm hành chính bằng hình thức cảnh cáo về hành vi trộm cắp tài sản.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/12/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Bình; có mặt theo Lệnh trích xuất.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 17 giờ 00 phút ngày 21/12/2024, tại khu vực đường dân sinh thuộc Tổ dân phố X, phường H, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình, Đội Cảnh sát ĐTTP về Kinh tế và Ma túy Công an thành phố Đồng Hới phối hợp Công an phường Hải Thành, thành phố Đồng Hới bắt quả tang Nguyễn Hoàng Thành Đ đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, thu giữ 01 (một) túi nilon bên trong chứa 08 (tám) viên nén hình tròn màu hồng. Về nguồn gốc của số ma túy trên, Nguyễn Hoàng Thành Đ khai nhận: Vào ngày 19/12/2024, Đ mua 50 viên ma túy loại hồng phiến của Đặng Văn T với giá 1.500.000 đồng. Sau đó, Đ đã sử dụng hết 42 viên, còn lại 08 viên ma túy Đ đang đi tìm nơi sử dụng thì bị bắt quả tang.

Vào lúc 09 giờ 10 phút ngày 22 tháng 12 năm 2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Đặng Văn T tại thôn Đ, xã Đ, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình, đã thu giữ số ma túy gồm: 07 (bảy) túi nilon màu xanh và 03 (ba) túi nilon màu hồng, bên trong chứa tổng cộng 1.785 viên nén hình tròn màu hồng; 29 (hai mươi lăm) túi nilon bên trong đều chứa chất màu trắng; 01 (viên) nén không rõ hình dạng, màu cam; 01 (một) túi nilon bên trong chứa chất màu trắng; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 16 PROMAX, số IMEI: 350108728143634; 50 (năm mươi) túi nilon; 01 (một) cân tiểu ly màu đen đã qua sử dụng và 10.000.000 đồng. Toàn bộ số tang vật nói trên Đặng Văn T khai nhận là ma túy loại hồng phiến, ketamine, đá và kẹo.

Về nguồn gốc số ma túy nói trên, Đặng Văn T khai nhận: Khoảng giữa tháng 11/2024, thông qua các mối quan hệ xã hội (không nhớ rõ thông qua ai), T biết một người đàn ông không rõ tên, khoảng 40 tuổi, trú tại huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình có bán ma túy, T hỏi mua 2000 (hai nghìn) viên ma túy loại hồng phiến, khoảng 02 (hai) lạng ma túy loại “Đá”, 01 (một) viên ma túy loại “Kẹo” và 01 (một) chỉ ma túy loại “Ketamine” với giá 110.000.000 đồng thì người này đồng ý và hẹn T sẽ có người đến giao toàn bộ số ma túy trên cho T. Khoảng 02 ngày sau, theo sự chỉ dẫn của người đàn ông trên, T đến lấy ma túy ở chân cột đèn tín hiệu tại khu vực ngã ba đường Điện Biên Phủ giao với đường tránh thành phố Đồng Hới mà người đàn ông trên đã để sẵn, rồi đưa về cất giấu tại nhà ở, chia nhỏ để bán kiếm lời. Khoảng 18 giờ 30 phút, ngày 19/12/2024, Đặng Văn T bán cho Nguyễn Hoàng Thành Đ 50 viên ma túy loại hồng phiến với giá 1.500.000 đồng; ngoài ra, T có bán cho một số người khác nhưng không nhớ rõ đã bán cho ai, số lượng cụ thể với tổng số tiền 10.000.000 đồng. Khoảng giữa tháng 11/2024 do buồn chuyện gia đình nên Đặng Văn T đã đập bể điện thoại di động dùng để liên lạc mua ma túy và do sử dụng sim rác nên T không nhớ số điện thoại của mình cũng như của người đàn ông bán ma túy. Chiếc điện thoại di động do Cơ quan điều tra thu giữ là Đặng Văn T mới mua, Cơ quan điều tra đã tiến hành khai thác dữ liệu như Facebook, messenger, Zalo, tin nhắn văn bản, lịch sử cuộc gọi nhưng không phát hiện dữ liệu, thông tin gì liên quan đến việc mua bán ma túy.

Ngày 22/12/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đồng Hới đã ra Quyết định trưng cầu giám định đối với số ma túy thu giữ của Nguyễn Hoàng Thành Đ và thu giữ của Đặng Văn T.

Ngày 27/12/2024, Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Bình có bản Kết luận giám định số 34/KL-KTHS, kết luận: 08 (tám) viên nén hình tròn màu hồng thu giữ của Nguyễn Hoàng Thành Đ là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng: 0,733 gam.

Ngày 30/12/2024, Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Bình có bản Kết luận giám định số 41/KL-KTHS, đối với số ma túy thu giữ của Đặng Văn T:

- Mẫu ký hiệu A1 gửi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng: 161,924 gam.

- Mẫu ký hiệu A2 gửi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng: 17,234 gam.

- Mẫu ký hiệu A3 gửi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng: 18,989 gam.

- Mẫu ký hiệu A4 gửi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng: 149,086 gam.

- Mẫu ký hiệu A5 gửi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine và MDMA, khối lượng: 0,332 gam.

- Mẫu ký hiệu A6 gửi giám định là chất ma túy, loại Ketamine, khối lượng: 0,631 gam.

MDMA nằm trong danh mục các chất ma túy, Số thứ tự: 11, Danh mục IB; Methamphetamine nằm trong danh mục các chất ma túy, Số thứ tự: 247, Danh mục IIC; Ketamine nằm trong danh mục các chất ma túy, Số thứ tự: 40, Danh mục III, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.

Vật chứng của vụ án: Quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã thu giữ gồm:

- 01 (một) túi nilon bên trong chứa 08 (tám) viên nén hình tròn màu hồng.

- 07 (bảy) túi nilon màu xanh và 03 (ba) túi nilon màu hồng, bên trong chứa tổng cộng 1.785 viên nén hình tròn màu hồng; 29 (hai mươi chín) túi nilon bên trong mỗi túi đều chứa chất màu trắng; 01 (viên) nén không rõ hình dạng, màu cam và 01 (một) túi nilon bên trong chứa chất màu trắng.

- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 16 PROMAX, màu Titan sa mạc, số IMEI: 350108728143634 (Thu giữ của Đặng Văn T);

- 50 (năm mươi) túi nilon;

- 01 (một) cân tiểu ly màu đen, đã qua sử dụng;

- Tiền ngân hàng nhà nước Việt Nam: 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng).

Số vật chứng hiện đang tạm giữ tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Quảng Bình.

Trong vụ án này, có người đàn ông ở huyện Q, tỉnh Quảng Bình, theo lời khai của Đặng Văn T là người đã bán ma túy cho T, nhưng do không xác định được nhân thân, lai lịch, địa chỉ cụ thể nên không có căn cứ để xử lý.

Bản Cáo trạng số 161/CT-VKS-P1 ngày 03/4/2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình truy tố bị cáo Đặng Văn T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm h khoản 4 Điều 251 của Bộ luật Hình sự; truy tố bị cáo Nguyễn Hoàng Thành Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố:

+ Bị cáo Đặng Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, đề nghị áp dụng điểm h khoản 4 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Đặng Văn T 20 năm tù.

+ Bị cáo Nguyễn Hoàng Thành Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng Thành Đ từ 15 đến 18 tháng tù.

- Các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Về vật chứng áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự để xử lý theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Quảng Bình, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Bị cáo Đặng Văn T bị khởi tố, điều tra, truy tố tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm h khoản 4 Điều 251 Bộ luật Hình sự với khung hình phạt cao nhất là tử hình, thuộc trường hợp được chỉ định người bào chữa. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, bị cáo Đặng Văn T từ chối người bào chữa. Do đó, Cơ quan tiến hành tố tụng không tiến hành chỉ định người bào chữa cho bị cáo.

. Về tội danh và hình phạt:

Tại phiên tòa, bị cáo Đặng Văn T khai nhận đã có hành vi bán 50 viên ma túy loại hồng phiến cho Nguyễn Hoàng Thành Đ và bán ma túy cho một số đối tượng khác không rõ tên, tuổi, địa chỉ với tổng số tiền 10.000.000 đồng. Số ma túy còn lại thu giữ của bị cáo Đặng Văn T gồm: 347,233 gam ma túy loại Methamphetamine; 0,631 gam ma túy loại ketamine; 0,332 gam ma túy loại Methamphetamine và MDMA; số ma túy thu giữ tại Nguyễn Hoàng Thành Đ là 0,733 gam ma túy loại Methamphetamine. Như vậy, tổng khối lượng ma túy mà Đặng Văn T mua bán trái phép là 2000 (hai nghìn) viên ma túy loại hồng phiến, khoảng 02 (hai) lạng ma túy loại “Đá”, 01 (một) viên ma túy loại “Kẹo” và 01 (một) chỉ ma túy loại “Ketamine”. Hành vi của bị cáo Đặng Văn T đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm h khoản 4 Điều 251 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của VKS nhân dân tỉnh Quảng Bình truy tố bị cáo với tội danh, khung hình phạt như đã nêu ở trên là có căn cứ.

Đối với bị cáo Nguyễn Hoàng Thành Đ, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thừa nhận có hành vi mua 50 viên ma túy loại hồng phiến của Đặng Văn T với giá 1.500.000 đồng nhằm mục đích để sử dụng, số ma túy còn lại thu giữ của bị cáo Đ là 0,733 gam ma túy loại Methamphetamine. Như vậy, hành vi của bị cáo Nguyễn Hoàng Thành Đ đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của VKS nhân dân tỉnh Quảng Bình đã truy tố bị cáo với tội danh, khung hình phạt như đã nêu ở trên là có căn cứ.

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, cần xử lý nghiêm khắc. Quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tích cực hợp tác với Cơ quan điều tra trong quá trình giải quyết vụ án nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bị cáo Nguyễn Hoàng Thành Đ có bố, ông, bà nội có công với cách mạng được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến nên được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy các bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập không ổn định. Do vậy, không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

. Về xử lý vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy: Toàn bộ số ma túy là tang vật vụ án; 01 cân tiểu ly màu đen, đã qua sử dụng; trả lại cho bị cáo Đặng Văn T: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 16 PROMAX, màu Titan sa mạc, số IMEI: 350108728143634 do không liên quan đến việc phạm tội; Tịch thu sung công số tiền 10.000.000 đồng thu giữ từ bị cáo T do thu lợi từ việc bán ma túy mà có.

. Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đặng Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, bị cáo Nguyễn Hoàng Thành Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

2. Về hình phạt:

- Áp dụng điểm h khoản 4 Điều 251; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đặng Văn T 20 (hai mươi) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam, ngày 22/12/2024.

- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự:

+ Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng Thành Đ 13 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam, ngày 21/12/2024.

Tiếp tục tạm giam các bị cáo với thời hạn 45 ngày để đảm bảo thi hành án (theo quyết định tạm giam của Hội đồng xét xử).

3. Xử lý vật chứng vụ án: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

+ Tịch thu tiêu hủy: Toàn bộ số ma túy là vật chứng trong vụ án gồm: 01 phong bì thư dán kín, trên ghi nội dung “34/KL-KTHS, niêm phong bằng chữ ký của những người tham gia niêm phong và hình dấu của phòng Kỷ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Bình, ngoài cùng dán băng dính trong suốt (hoàn trả sau giám định); 01 phong bì thư dán kín, trên ghi nội dung “41/KL-KTHS, niêm phong bằng chữ ký của những người tham gia niêm phong và hình dấu của phòng Kỷ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Bình, ngoài cùng dán băng dính trong suốt (hoàn trả sau giám định); 01 cân tiểu ly màu đen, đã qua sử dụng; 50 túi nilon.

+ Tịch thu sung công quỹ Nhà nước: Số tiền 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Số tiền này hiện có tại tài khoản Cục thi hành án dân sự tỉnh Quảng Bình số 3949.0.1054377.00000 theo Uỷ nhiệm chi ngày 21/4/2025.

+ Trả lại cho bị cáo Đặng Văn T: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 16 PROMAX, màu Titan sa mạc, đã qua sử dụng.

Các vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng giữa cơ quan điều tra và Cục thi hành án dân sự tỉnh Quảng Bình ngày 18/4/2025.

4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, xử buộc các bị cáo Đặng Văn T và Nguyễn Hoàng Thành Đ mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm để sung công quỹ Nhà nước.

5. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (28/11/2025).

Cỡ chữ