vanban.org

Bản án 35/2025/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn H 36 (Ba mươi sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 60 (Sáu mươi) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Nguyễn Văn H cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THẠCH THÀNH
TỈNH THANH HOÁ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 35/2025/HS-ST
Ngày: 20 - 06 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH THÀNH, TỈNH THANH HOÁ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Văn Hải

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Hà

2. Bà Trương Thị Hồng Xuân

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Trần Văn Hùng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hoá

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Nguyệt - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 06 năm 2025, tại trụ sở TAND huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 30/2025/TLST-HS, ngày 30/05/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 34/2025/QĐXXST-HS, ngày 05/06/2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Văn H; Sinh ngày: 09/5/1990, tại thị trấn L, huyện T, Thanh Hóa; Số căn cước công dân: 038090050727; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: thôn Đ, thị trấn L, T, Thanh Hóa; Nơi đăng ký tạm trú: thôn B, xã T, huyện T, Thanh Hóa; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công giáo. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông: Nguyễn Văn N (đã chết); con bà: Nguyễn Thị O, Sinh năm 1959; Tiền án, Tiền sự: Chưa; Bị cáo bị khởi tố và áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 11/02/2025 đến nay. Hiện bị cáo đang tại ngoại tại địa phương, có mặt tại phiên tòa.

- Người bị hại: Ông Lê Văn H1 (Đã chết)

Người đại diện hợp pháp của ông H1:

1. Bà Tào Thị N1; sinh năm: 1975

Địa chỉ: Khu phố A T, TT K, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.

2. Anh Lê Văn V; sinh năm: 1995

Địa chỉ: Khu phố A T, TT K, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.

3. Anh Lê Văn N2; sinh năm: 1998 ;Địa chỉ: Khu phố A T, TT K, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Anh V là người đại diện theo ủy quyền của bà N1 và anh N2; Vắng mặt tại phiên tòa (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 21 giờ 55 phút ngày 23/12/2024, Nguyễn Văn H điều khiển xe mô tô biển số 36B7 – 089.49 lưu thông trên đường Quốc lộ 45 theo hướng xã T đi thị trấn V. Khi đi đến Km 21 + 600 đường Quốc lộ 45 đoạn thuộc Khu phố A T, thị trấn K, T, Thanh Hóa do không chú ý quan sát người đi bộ sang đường và không giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn khi có người đi bộ qua đường, qua khu vực có biển báo nguy hiểm W207e và qua khu vực đông dân cư nên Nguyễn Văn H đã điều khiển xe mô tô va chạm với ông Lê Văn H1 đang đi bộ sang đường. Sau khi tai nạn giao thông xảy ra ông Lê Văn H1 bị thương vùng đầu, được đi cấp cứu tại các cơ sở y tế, đến ngày 02/01/2025 do thương tích nặng ông Lê Văn H1 đã chết.

Ngay sau khi tiếp nhận thông tin về vụ việc, các cơ quan chức năng đã phối hợp khám nghiệm hiện trường, phương tiện, khám nghiệm tử thi, tiến hành các hoạt động điều tra, xác minh vụ việc theo quy định, cụ thể như sau:

Kết quả khám nghiệm hiện trường:

Hiện trường vụ tai nạn giao thông xảy ra trên một đoạn đường thẳng của Quốc lộ D giao nhau với đường nhánh vào khu dân cư số 14, mặt đường chính rải nhựa bằng phẳng rộng 1187cm, ở giữa đường có vạch kẻ sơn màu vàng (vạch 1.1); đoạn giao nhau với đường nhánh rộng 120cm. Hai đầu hiện trường có biển báo hiệu giao nhau với đường không ưu tiên (W207d, W207e). Hiện trường ghi nhận các vị trí như sau:

* Vị trí số 1: Vị trí số 1 là hệ thống vết cà không liên tục, vết có chiều từ T đi thị trấn V, kích thước 1850 x 65 (cm), đầu vết cách A là 546(cm), cách B là 750 (cm) và cách mép ngoài bên phải vạch 1.1 là 40 (cm), cách góc bên trái điểm giao nhau với đường nhánh theo hướng chính diện là 660 (cm); cuối vết trùng giá để chân sau bên phải và đầu mút tay nắm lái bên phải lần lượt cách A là 410 (cm) và 364 (cm).

* Vị trí số 2: Là một vùng mảnh vỡ gồm nhiều mảnh nhựa, gương kính vỡ nằm rải rác chủ yếu ở phần đường bên phải kích thước 300 x 180 (cm), tâm vùng mảnh vỡ cách A là 543 (cm), cách đầu hệ thống vết cà số (1) là 265 (cm).

* Vị trí số 3: Là một vết dịch màu đỏ dạng loang không rõ hình, vết có kích thước 45 x 25 (cm), tâm vết cách A là 225cm và cách tâm vùng mảnh vỡ số (2) là 1360 (cm).

* Vị trí số 4: Là chiếc xe mô tô biển số 36B7 – 089.49 loại hai bánh, nhãn hiệu: HONDA, màu sơn: đỏ đen, xe nằm đổ nghiêng bên phải đầu xe quay về hướng đi TT V đuôi xe quay về hướng đi xã T, tâm bánh trước của xe cách A là 415 (cm) và cách tâm vết máu số (3) là 210cm.

* Vị trí số 5: Là một vết dịch màu đỏ dạng loang không rõ hình, vết có kích thước 20 x 10 (cm). T vết cách A là 575 (cm) và cách tâm bánh sau xe mô tô (4) là 170cm.

Kết quả khám nghiệm phương tiện thể hiện:

- Xe mô tô biển số 36B7 – 089.49:

+ Mặt trước bên trái mặt nạ, phần trước cánh yếm bên trái, bên trái ốp nhựa đầu xe có vết tỳ trượt làm mòn xước bề mặt sơn trong diện (49 x 17) cm, vết có chiều từ trước về sau, từ phải sang trái, từ dưới lên trên bề mặt, vết in các vân sọc song song (dạng vân vải) và bám dính sơ vải sợi, vết làm bung bật, nứt vỡ một phần cánh yếm bên trái mặt nạ và bê trái ốp nhựa đầu xe, vết cao so với mặt đất 60-102cm.

+ Mặt trước trên phần trước chắn bùn bánh trước, bên phải cụm đèn chiếu sáng phía trước đến bên phải mặt nạ, có vết cà trượt làm mòn nhựa trong diện (46x23) cm. Vết có chiều từ trước về sau, từ dưới lên trên. Bề mặt vết bám dính chất màu trắng, đỏ dạng sơn nhựa, vết cao so với mặt đất 58-85cm.

+ Mặt ngoài tay nắm, tay phanh bên phải, cánh yếm bên phải, sàn để chân trước bên phải, giá để chân sau bên phải, ốp tản nhiệt, ống bô có các vết cà trượt, các vết có nhiều chiều hướng khác nhau, tập trung chủ yếu từ dưới lên trên, bề mặt vết bám dính chất màu trắng đục dạng bột đá.

Tại Bản kết luận giám định số 644/KL-KTHS ngày 03/02/2025 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận:

- Không đủ cơ sở xác định va chạm giữa xe mô tô BKS: 36B7 – 089.49 với ông Lê Văn H1

- Dấu vết ghi nhận tại mặt trước bên trái mặt nạ, phần trước cánh yếm bên trái, bên trái đầu xe mô tô BKS: 36B7 – 089.49 (ảnh 5 đến 11) phù hợp va chạm với chất liệu vải sợi tạo nên.

- Tại thời điểm xảy ra va chạm xe mô tô BKS: 36B7 – 089.49 chuyển động theo hướng xã T đi thị trấn V

- Không đủ cơ sở xác định chiều hướng chuyển động của ông Lê Văn H1

- Không đủ cơ sở xác định tốc độ xe mô tô BKS: 36B7 – 089.49 và ông Lê Văn H1 tại thời điểm xảy ra tai nạn”.

Căn cứ Kết luận giám định số 644/KL-KTHS ngày 03 tháng 02 năm 2025 của Phòng K Công an tỉnh T không đủ cơ sở để xác định điểm xảy ra va chạm giữa xe mô tô và nạn nhân, tuy nhiên căn cứ các chứng cứ, tài liệu khác đã thu thập được, xác định tại thời điểm xảy ra va chạm, người điều khiển xe mô tô là bị cáo Nguyễn Văn H đã vi phạm các quy định an toàn giao thông, là nguyên nhân trực tiếp gây ra tai nạn.

Tại Bản kết luận giám định số 589/KLGĐTT-PC09 ngày 24/01/2025 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận về nguyên nhân chết của ông Lê Văn H1 là “Chấn thương sọ não”.

Ngày 10/03/2025 Cơ quan CSĐT Công an tỉnh T Bộ C1 giám định tỷ lệ tổn hại sức khỏe do tai nạn giao thông gây nên đối với bị cáo Nguyễn Văn H. Tuy nhiên, bị cáo H đã có Đơn xin từ chối giám định thương tích. Vì vậy, không có căn cứ xác định hậu quả về thương tích đối với bị cáo Nguyễn Văn H.

Kết quả xét nghiệm nồng độ cồn, ma túy:

Ngày 23/12/2024, Công an huyện T có văn bản số 1501/CATT đề nghị Bệnh viện đa khoa huyện T xét nghiệm nồng độ cồn trong máu và chất ma tuý trong cơ thể đối với những người có liên quan trong vụ tai nạn giao thông trên. Kết quả xét nghiệm: Định lượng Ethanol (cồn) [ Máu] của Nguyễn Văn H là 190,7mg/dL (khoảng tham chiếu là 0-8,1), không có ma tuý. Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã tiến hành làm việc với Nguyễn Văn H và những người làm chứng khác xác định trước khi tham gia giao thông và xảy ra tai nạn giao thông, vào khoảng 18 giờ 30 đến khoảng 20 giờ 30 ngày 23/12/2024 anh Nguyễn Văn H có uống rượu tại nhà thờ B thuộc thôn B, xã T, T, Thanh Hóa.

Kết quả kiểm tra, rà soát tại hiện trường vụ án, Cơ quan điều tra đã rà soát C và xác định Camera an ninh của Công an thị trấn K và C an ninh nhà bà Lưu Thị L (sinh năm: 1971, trú tại: Khu phố A T, thị trấn K, huyện T, tỉnh Thanh Hóa) có ghi lại nội dung hình ảnh có liên quan trong vụ tai nạn giao thông, Cơ quan điều tra đã tiến hành sao lưu các hình ảnh có liên quan đến vụ tai nạn giao thông được ghi lại từ các camera nói trên vào 02 USB và niêm phong theo đúng quy định. Ngày 24/01/2025 Cơ quan CSĐT Công an huyện T trưng cầu Phòng K Công an tỉnh T giám định video và làm rõ hình ảnh va chạm giữa xe mô tô biển số 36B7-089.49 và ông Lê Văn H1. Tại Bản kết luận giám định số 606/KL-KTHS ngày 24/01/2025 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận:

- Không phát hiện dấu hiệu chỉnh sửa cắt ghép nội dung hình ảnh trong 02 (hai) tệp video của 02 (hai) USB gửi giám định

- Trích xuất 06 (sáu) ảnh từ các tệp gửi giám định – Thể hiện trong phụ lục.

Về thiệt hại tài sản: Tại Bản kết luận định giá tài sản số 03/KL-HĐĐGTS ngày 23 tháng 01 năm 2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T kết luận: Giá trị thiệt hại do hư hỏng sau tai nạn của 01 (một) Xe mô tô biển số: 36B7 – 089.49 tại thời điểm định giá là 690.000 đồng (sáu trăm chín mươi nghìn đồng)

Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình giải quyết vụ án, bị cáo Nguyễn Văn H đã tự nguyện bồi thường, hỗ trợ mai táng phí cho nạn nhân và gia đình nạn nhân Lê Văn H1, số tiền là 400.000.000 đồng (Bốn trăm triệu đồng). Đến nay, người đại diện hợp pháp của người bị hại không có yêu cầu, đề nghị bồi thường thêm và có đơn xin miễn trách nhiệm hình sự đối với Nguyễn Văn H.

Về vật chứng vụ án: Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã tạm giữ phương tiện, đồ vật, tài liệu liên quan đến vụ án:

- 01 (một) xe mô tô biển số 36B7 – 089.49 (cùng giấy tờ xe);

- 01 (một) Giấy phép lái xe của bị cáo Nguyễn Văn H;

Quá trình xác minh xác định xe mô tô biển số 36B7 – 089.49 được đăng ký chính chủ của bị cáo Nguyễn Văn H, không phải là vật chứng, tang vật trong vụ án, vụ việc khác, không có phát sinh liên quan đến bồi thường dân sự nên Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý bằng hình thức trả lại xe mô tô biển số 36B7 – 089.49 cho chủ sở hữu.

Đối với 01 giấy phép lái xe của Nguyễn Văn H; 02 USB gửi giám định hiện đang được lưu giữ cùng hồ sơ vụ án.

Tại bản cáo trạng số 31/CT-VKSTT, ngày 30/5/2025, Viện Kiểm sát nhân dân (sau đây viết tắt là VKSND) huyện T, tỉnh Thanh Hóa đã truy tố Nguyễn Văn H về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự (sau đây viết tắt là BLHS).

Tại phiên tòa đại diện VKSND giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị áp dụng điểm b khoản 2 Điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 65 BLHS, xử phạt Nguyễn Văn H 36 tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 60 tháng tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Nguyễn Văn H đã thỏa thuận bồi thường cho gia đình người bị hại xong. Người đại diện hợp pháp của người bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm, đại diện VKSND đề nghị không xem xét.

Phần tranh tụng tại phiên toà:

Bị cáo thành khẩn nhận tội, không có ý kiến tranh luận với kiểm sát viên;

Trong lời nói sau cùng, Bị cáo cảm thấy rất hối hận về hành vi của bản thân và gửi lời xin lỗi đến gia đình người bị hại, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo để bị cáo có cơ hội cải tạo trở thành người công dân tốt có ích cho xã hội

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, HĐXX nhận thấy:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Cơ quan điều tra công an tỉnh T, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Thành, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của BLTTHS. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, đại diện hợp pháp của người bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về trách nhiệm hình sự: Tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Văn H thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng, hiện trường nơi xảy ra tai nạn, kết luận giám định pháp y. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 21 giờ 55 phút, ngày 23/12/2024, Nguyễn Văn H (có giấy phép lái xe theo quy định), mặc dù đã sử dụng rượu bia, có nồng độ cồn trong máu là 190,7 mg/dL, nhưng vẫn điều khiển xe mô tô tham gia giao thông đường bộ. Khi điều khiển xe mô tô, bị cáo không chú ý quan sát người đi bộ qua đường, không giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn khi có người đi bộ qua đường, đi qua khu vực có biển báo hiệu nguy hiểm W207e và khi đi qua khu vực đông dân cư nên đã xảy ra va chạm với ông Lê Văn H1 khi đang đi bộ sang đường. Hậu quả làm ông Lê Văn H1 bị thương đến ngày 02/01/2025 thì tử vong. Hành vi điều khiển xe mô tô khi đã có nồng độ cồn trong máu, không chú ý quan sát, không giảm tốc độ xuống mức tối đa cho phép để có thể dừng lại một cách an toàn của Nguyễn Văn H đã vi phạm khoản 8, khoản 23 Điều 8; Điều 12 Luật giao thông đường bộ năm 2008 và khoản 1, 5, 6 Điều 5 Thông tư số 31/2019/TT- BGTVT của Bộ G; đây là hành vi vi phạm quy định tham gia giao thông đường bộ, là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến tai nạn giao thông hậu quả làm ông Lê Văn H1 chết. Do đó Nguyễn Văn H đã phạm vào tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ theo quy định tại Điều 260 Bộ luật Hình sự. Bị cáo gây tai nạn trong tình trạng có sử dụng rượu mà trong máu có nồng độ cồn là 190,7 mg/dL vượt quá mức quy định. Do đó Nguyễn Văn H phải chịu tình tiết định khung "Trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định" quy định tại điểm b khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.

. Hành vi của bị cáo là rất nghiêm trọng, xâm phạm đến trật tự, an toàn trong hoạt động giao thông đường bộ, đồng thời xâm phạm đến sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ. Vì vậy, cần xét xử bị cáo một mức án tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nhằm tuyên truyền, giáo dục ý thức chấp hành pháp luật của người dân khi tham gia giao thông.

. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng. Quá trình giải quyết vụ việc bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho người bị hại; trong quá trình điều tra và tại phiên tòa thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải. Đây là 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm b, s khoản 1 Điều 51 BLHS. Người đại diện hợp pháp của người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo có bố được Nhà nước tặng Huy chương kháng chiến hạng nhì, quá trình sinh sống tại địa phương bị cáo đã tích cực đóng góp ủng hộ khu phố làm đường bê tông. Ngoài ra người bị hại là ông Lê Văn H1 tại thời điểm xảy ra tại nạn ông H1 đã có một phần lỗi là đi bộ qua đường không đảm bảo an toàn. Đây là các tình tiết giảm nhẹ được chấp nhận theo khoản 2 Điều 51 BLHS.

. Mặc dù bị cáo phạm tội rất nghiêm trọng nhưng là lỗi vô ý, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, nên không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho hưởng án treo cũng đủ sức răn đe đối với bị cáo.

. Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Nguyễn Văn H đã tự nguyện bồi thường cho gia đình người bị hại. Người đại diện hợp pháp của người bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

. Về vật chứng: Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã tạm giữ phương tiện, đồ vật, tài liệu liên quan đến vụ án: 01 (một) xe mô tô biển số 36B7 – 089.49 (cùng giấy tờ xe). Quá trình xác minh xác định xe mô tô biển số 36B7 – 089.49 được đăng ký chính chủ của bị cáo Nguyễn Văn H, không phải là vật chứng, tang vật trong vụ án, vụ việc khác, không có phát sinh liên quan đến bồi thường dân sự nên Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý bằng hình thức trả lại xe mô tô biển số 36B7 – 089.49 cho chủ sở hữu là đúng quy định của pháp luật.

. Đối với 01 giấy phép lái xe hạng A1 số AL 588971 do Sở giao thông vận tải tỉnh T cấp ngày 07/09/2009 của Nguyễn Văn H. Xét thấy không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo là phù hợp.

. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì những lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Điểm b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 65 Bộ luật Hình sự;

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn H 36 (Ba mươi sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 60 (Sáu mươi) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Nguyễn Văn H cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 BLHS.

Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn H 01 giấy phép lái xe hạng A1 số AL 588971 do Sở giao thông vận tải tỉnh T cấp ngày 07/09/2009. Giấy phép lái xe hiện đang lưu giữ trong hồ sơ vụ án.

Về án phí: Áp dụng Điều 136 BLTTHS; Điều 6, Điều 21, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016. Bị cáo Nguyễn Văn H phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, vắng mặt người đại diện hợp pháp của người bị hại. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người đại diện hợp pháp của người bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án.

Cỡ chữ