- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vàng Mì Na - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vàng Mì N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM KHU VỰC 4 - LAI CHÂU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 35/2025/HS-ST Ngày 17-09-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - LAI CHÂU
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông: Đồng Văn Dũng
- Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Công Đại
2. Bà Vàng Thị Thu
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Minh Tuấn - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 4 - Lai Châu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Lai Châu tham gia phiên toà: Bà Giàng Thị Dơ - Kiểm sát viên.
Ngày 17/9/2025, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 4 - Lai Châu mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 33/2025/TLST-HS, ngày 22/8/2025, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 34/2025/QĐXXST-HS, ngày 04/9/2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Vàng Mì Na; sinh năm 1954, tại xã P, tỉnh Lai Châu; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở trước khi bị bắt: Bản Pa Ủ, xã P, tỉnh Lai Châu; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ học vấn: 01/12; dân tộc: La Hủ; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Vàng Go X (đã chết) và con bà Lỳ Mỳ L (đã chết); Có chồng: Pờ Phí Lòng (đã chết) và có 07 người con, lớn nhất sinh năm 1967, nhỏ nhất sinh năm 1998. Tiền án; tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 12/9/2011, Vàng Mì Na bị Tòa án nhân dân huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu áp dụng khoản 1, Điều 194; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 1999 (sữa đổi bổ sung năm 2009) xử phạt 36 tháng tù giam về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Ngày 30/8/2013 bị cáo chấp hành xong hình phạt tù trở về địa phương sinh sống, hiện đã được xóa án tích.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 10/04/2025 đến ngày 18/4/2025 được áp dụng biện pháp ngăn chặn C đi khỏi nơi cư trú cho đến nay. Có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo Vàng Mì N: Ông Lê Mạnh H - Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh L. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào chiều ngày 09/4/2025, khi V Mì Na đang ở nhà tại bản P, xã P, tỉnh Lai Châu thì có một người đàn ông (không rõ nhân thân, lai lịch) đến nhà hút thuốc lào và hỏi N có mua Heroine không. Do bản thân nghiện chất ma túy nên N đồng ý. Qua trao đổi, N mua 01 gói Heroine được gói trong mảnh nilon màu trắng với giá 1.000.000 đồng, với mục đích để sử dụng dần. Sau khi giao dịch, người đàn ông trên rời đi, N không rõ đi đâu. Na cất gói Heroine vừa mua được vào túi quần Đang mặc.
Đến tối cùng ngày, N lấy gói Heroine đó ra chia thành 40 gói nhỏ (gồm 12 gói được gói bằng mảnh nilon màu hồng và 28 gói được gói bằng mảnh nilon màu trắng), sau đó cho toàn bộ vào một lọ nhựa màu trắng có nắp vặn cùng màu rồi để cạnh võng trong nhà.
Đến hồi 15 giờ 50 phút ngày 10/4/2025, N lấy 01 gói Heroine bên ngoài gói bằng mảnh nilon màu trắng trong lọ nhựa ra đặt trên nắp thùng sơn, phía trước và lệch về bên phải so với vị trí N đang ngồi chuẩn bị sử dụng thì bị lực lượng Công an xã P phát hiện, đồng thời yêu cầu N giao nộp những đồ vật bị pháp luật nghiêm cấm nên N tự nguyện giao nộp 01 lọ nhựa màu trắng có nắp vặn cùng màu được đặt dưới nền nhà gần phía bên tay phải nơi võng của N đang ngồi. Bên trong lọ nhựa này có chứa 39 gói Heroine còn lại đem ra giao nộp cho tổ công tác. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với N và thu giữ toàn bộ vật chứng để niêm phong theo quy định của pháp luật.
Tại Bản kết luận giám định số: 297/KL-KTHS, ngày 16/04/2025 của Phòng K Công an tỉnh L kết luận:
- Số chất bột, màu trắng thu giữ của Vàng Mì Na có khối lượng là 2,4 gam (hai phẩy bốn gam);
- 39 (ba mươi chín) mẫu chất bột, màu trắng (ký hiệu: Mẫu 01, Mẫu 02, M, Mẫu 04, Mẫu 05, M, M, M, M, M, M, Mẫu 12, Mẫu 13, Mẫu 14, M, M, M, M, M, Mẫu 20, M, M, M, M, M, M, M, M, Mẫu 29, Mẫu 30, M, Mẫu 32, M, M, Mẫu 35, M, M, M, M, Mẫu 40) gửi giám định là ma túy, loại: Heroine (H1), có tên khoa học là D, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ - CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất.
Vật chứng của vụ án: 01 (một) lọ nhựa màu trắng có nắp vặn cùng màu; 40 gói Heroine (gồm 12 gói được gói bằng mảnh nilon màu hồng và 28 gói được gói bằng mảnh nilon màu trắng).
Vật chứng còn lại sau khi mở niệm phong, lấy mẫu giám định gồm: 01 (một) lọ nhựa màu trắng có nắp vặn cùng màu; 12 mảnh nilon màu hồng; 28 mảnh nilon màu trắng. Hiện toàn bộ vật chứng nêu trên đang được bảo quản theo quy định của pháp luật.
Tại bản Cáo trạng số: 27/CT-VKSKV4, ngày 15 tháng 8 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Lai Châu đã truy tố bị cáo Vàng Mì N về tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về Bản kết luận điều tra số 215/BKL-CSMT, ngày 15/7/2025 của Cơ quan CSĐT Công an tỉnh L và bản Cáo trạng nêu trên.
Tai phiên tòa, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Lai Châu giữ nguyên quan điểm truy tố của mình đồng thời phân tích, đánh giá toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Vàng Mì N phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Về hình phạt: Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s, o, p khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Vàng Mì N từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 6 (sáu) tháng tù, bị cáo được khấu trừ 09 ngày tạm giữ (từ ngày 10/4/2025 đến ngày 18/4/2025). Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào trại chấp hành án. Áp dụng khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự. Đề nghị tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì do bưu điện V1 phát hành bên trong đựng 12 mảnh nilon màu hồng và 28 mảnh nilon màu trắng; 01 (một) lọ nhựa màu trắng có nắp vặn màu trắng. Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Vàng Mì N theo quy định của pháp luật.
Người bào chữa cho bị cáo tại phiên tòa đều nhất trí với nội dung, quyết định truy tố. Không có ý kiến tranh luận về tội danh, điều luật, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ cũng như xử lý vật chứng, các biện pháp tư pháp mà Kiểm sát viên đã đề nghị. Tuy nhiên người bào chữa cho bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, hoàn cảnh gia đình, nhận thức pháp luật của bị cáo để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng, không có ý kiến tranh luận đối với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Lai Châu, nhất trí với bản luận cứ bào chữa.
Tại lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, Quyết định của Cơ quan điều tra Công an tỉnh L, Điều tra viên. Cơ quan Viện kiểm sát khu vực 4 - Lai Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tranh tụng tại phiên toà bị cáo, người bào chữa không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội:
Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với nội dung vụ án, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thu thập hợp pháp. Như vậy, có đủ cơ sở xác định: Vào hồi 15 giờ 50 phút, ngày 10/4/2025, tại nhà Vàng M ở bản P, xã P, tỉnh Lai Châu, Bị cáo Vàng Mì N đang có hành vi tàng trữ trái phép 40 gói Heroine, có khối lượng 2,4 gam với mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị Tổ công tác Công an xã P phát hiện và bắt quả tang.
Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự nên hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, quan điểm đề nghị về tội danh, mức hình phạt đối với bị cáo của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là hoàn toàn có cơ sở, đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo nhận thức được việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi đó là nguy hiểm cho xã hội, có tính chất nghiêm trọng, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, gây mất trật tự trị an trên địa bàn nên cần được xử lý nghiêm minh.
Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, ngày 12/9/2011, Vàng Mì Na bị Tòa án nhân dân huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu áp dụng khoản 1, Điều 194; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 1999 (sữa đổi bổ sung năm 2009) xử phạt 36 tháng tù giam về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Ngày 30/8/2013 bị cáo chấp hành xong hình phạt tù trở về địa phương sinh sống, hiện đã được xóa án tích. Khi bị Công an phát hiện bắt quả tang có xét nghiệm chất ma túy thì bị cáo có sử dụng chất ma túy (dương tính).
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, tại thời điểm phạm tội bị cáo trên 70 tuổi; bị cáo là người khuyết tật nặng, được hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng theo Nghị định số 76/2024/NĐ -CP ngày 01/7/2024 của Chính phủ đối với đối tượng bảo trợ xã hội; bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở khu vực có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, hiểu biết pháp luật còn hạn chế. Do vậy, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, o, p khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Không có.
Trên cơ sở tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Xét thấy cần thiết phải có mức hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho xã hội.
Chấp nhận ý kiến của người bào chữa về tội danh, điều khoản áp dụng, hình phạt bổ sung, án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo Vàng Mì Na . Đối với yêu cầu của người bào chữa đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ được áp dụng đối với bị cáo, cần có mức án tương xứng đủ để răn đe, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt và phòng ngừa chung cho toàn xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung. Tuy nhiên, theo các tài liệu chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo là nghề nghiệp trồng trọt, thu nhập không ổn định. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng của vụ án:
Đối với 01 (một) phong bì do bưu điện V1 phát hành bên trong đựng 12 mảnh nilon màu hồng và 28 mảnh nilon màu trắng; 01 (một) lọ nhựa màu trắng có nắp vặn màu trắng, đây là những vật không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu để tiêu huỷ.
Những vấn đề liên quan:
Đối với người đàn ông đã bán Heroine cho bị cáo Vàng Mì N: Do bị cáo không biết họ tên, địa chỉ của người này, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh L không có căn cứ để điều tra làm rõ xử lý theo quy định quy định pháp luật;
Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; thuộc diện hộ nghèo nên căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 4 Luật số 86/2025/QH15 ngày 25/6/2025 của Quốc hội, Luật sửa đổi bổ sung một số Điều của Bộ luật Hình sự;
Căn cứ vào điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249; điểm o, p, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106; Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Căn cứ khoản 1 Điều 6, khoản 1, khoản 2 Điều 7 Nghị quyết số 01/2025/NQ-HĐTP ngày 27/6/2025 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định về tiếp nhận nhiệm vụ, thực hiện thẩm quyền của các Toà án nhân dân.
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vàng Mì N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Vàng Mì N 02 (hai) năm tù, khấu trừ 09 (chín) ngày tạm giữ (từ ngày 10/4/2025 đến ngày 18/4/2025), còn lại bị cáo phải chấp hành 01 (một) năm 11 (mười một) tháng 21 (hai mươi mốt) ngày tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào trại chấp hành án.
Không áp dụng hình phạt bổ sung cho bị cáo.
3. Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì do bưu điện V1 phát hành bên trong đựng 12 mảnh nilon màu hồng và 28 mảnh nilon màu trắng; 01 (một) lọ nhựa màu trắng có nắp vặn màu trắng. Đây là những vật không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu để tiêu huỷ.
(Tình trạng, đặc điểm vật chứng theo như biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 04 tháng 09 năm 2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh L và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 4 - Lai Châu).
4. Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án lên Tòa án nhân dân cấp trên./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lai Châu; - VKSND tỉnh Lai Châu; - THADS tỉnh Lai Châu; - VKSND khu vực 4 - Lai Châu; - Phòng hồ sơ nghiệp vụ Công an tỉnh Lai Châu PV 06; - Phòng THADS khu vực 4 - Lai Châu; - Cơ quan CSĐT Công xã Bum Tở; - Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Lai Châu; - CQTHAHS Công an tỉnh Lai Châu; - Trại tạm giam Công an tỉnh Lai Châu; - Bị cáo; - Người bào chữa; - Lưu HSVA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đồng Văn Dũng |