vanban.org

Bản án 35/2025/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Vũ Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đƣờng bộ”.

Xử phạt bị cáo Vũ Văn T 12 (Mười hai) tháng tù cho hƣởng án treo, thời gian thử thách 24 (Hai mươi bốn) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Vũ Văn T cho UBND xã V, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng (sau ngày 01/7/2025 là UBND xã C, TP Hải Phòng) giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 L…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Vũ Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đƣờng bộ”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TỨ KỲ, TỈNH HẢI DƢƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 35/2025/HS-ST
Ngày 27-6-2025

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỨ KỲ, TỈNH HẢI DƢƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Quân.

Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn T Hải và ông Nguyễn Văn Chìu

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Văn Hùng- Thƣ ký Toà án nhân dân huyện Tứ Kỳ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Đình Long - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 6 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 34/2025/HSST ngày 16/6/2025, theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 35/2025/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 6 năm 2025, đối với bị cáo:

Vũ Văn T, sinh ngày 16/8/1989; Số CCCD: 03008902….; cấp ngày 03/02/2023, nơi cấp: Cục CSQLHC về trật tự xã hội.

Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: thôn N, xã V, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng (từ ngày 01/7/2025 là thôn N, xã ….., TP Hải Phòng); trình độ văn hoá: 12/12; Nghề nghiệp: Công nhân; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Vũ Văn H và bà Lê Thị H; có vợ là Vũ Thị T H và 02 con, con lớn sinh năm 2013, con nhỏ sinh năm 2017; tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo tại ngoại, hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cƣ trú, có mặt.

- Bị hại: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1961; địa chỉ: Thôn H, xã L, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng (đã chết).

- Đại diện hợp pháp của bà L:

+ Anh Nguyễn Văn G, sinh năm 1990;

+ Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1986; Đều trú tại: Thôn H, xã L, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng (sau ngày 01/7/2025 là thôn H, xã L, TP Hải Phòng). (chị H ủy quyền cho anh G tham gia tố tụng).

- Người làm chứng:

+ Anh Phạm Văn T, sinh năm 1973;

+ Anh Phạm Văn T, sinh năm 1971;

Anh G có mặt, những ngƣời làm chứng vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Vũ Văn T có giấy phép lái xe hạng A1 do Sở giao thông vận tải tỉnh Hải Dƣơng cấp ngày 02/5/2012 có giá trị không thời hạn. Khoảng hơn 19 giờ 30 phút ngày 22/3/2025, T điều khiển xe mô tô biển số 34S1- 001.... đi từ Công ty Trách nhiệm hữu hạn Plastc tích M, địa chỉ: Cụm Công nghiệp N, xã Nguyên Giáp, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng hƣớng Quý Cao đi thị trấn Tứ Kỳ để về nhà. Đến khoảng 20 giờ 00 phút cùng ngày, T điều khiển xe mô tô từ Cầu Xe xuống dốc đến Km 25 + 471 đƣờng tỉnh 391 thuộc địa phận thôn H, xã L, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng. Tại đây là đoạn đƣờng thẳng, mặt đƣờng đƣợc trải nhựa áp phan bằng phẳng, hai bên đƣờng là vỉa hè, tiếp theo vỉa hè là nhà các hộ dân sinh sống hai bên đƣờng. Lòng đƣờng rộng 15m, có 02 vạch kẻ sơn màu vàng liền song song rộng 50cm để phân chia hai chiều đƣờng riêng biệt, mỗi bên chiều đƣờng rộng 7,25m. Lúc này trời tối, đƣờng không có đèn chiếu sáng, có ánh đèn điện của nhà dân hai bên đƣờng chiếu ra đƣờng, đoạn đƣờng không bị che khuất tầm nhìn, Vũ Văn T điều khiển xe đi cách vạch sơn giữa đƣờng khoảng 50cm, với tốc độ khoảng 50 đến 60km/h. Cùng lúc này có bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1961, địa chỉ: Thôn H, xã L, huyện Tứ Kỳ đang đi bộ sang đƣờng (đi từ lề đƣờng bên phải sang bên trái hƣớng Qúy Cao đi thị trấn Tứ Kỳ), khi bà L đi từ lề đƣờng bên phải sang đƣờng cách mép đƣờng phải khoảng 6,40m do T không chú ý quan sát, không làm chủ tốc độ, không điều khiển xe đi về bên phải theo chiều đi của mình nên khi đi đến gần bà L khoảng 10m, T đã không kịp tránh và phanh xe dẫn đến phần bánh đầu xe bên phải va chạm vào chân và ngƣời bà L làm bà L bị ngã xuống đƣờng đẩy bà L trƣợt rê 1,95m về hƣớng thị trấn Tứ Kỳ,cách mép đƣờng phải 6,35m; xe mô tô do T điều khiển trƣợt rê 2,25mvề hƣớng thị trấn Tứ Kỳ,cách mép đƣờng phải 6,30m. Hậu quả, bà L bị thƣơng đƣợc đƣa đi bệnh viện cấp cứu đến chiều ngày 5/4/2025 bà L tử vong.

Tại biên bản khám nghiệm tử thi ngày 05/4/2025 và Kết luận giám định tử thi số 112/KLGĐTT-KTHS ngày 11/4/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hải Dƣơng đối với Nguyễn Thị L kết luận: các kết quả chính: Biến dạng lồng ngực, dấu hiệu tràn khí dƣới da vùng ngực; Bầm tụ máu sƣng nề vùng ngực trái tƣơng ứng đầu ngoài xƣơng đòn trái, gãy xƣơng đòn trái; da vùng lƣng trái có đám bầm tụ máu đi từ vị trí cực dƣới xƣơng bả vai trái xuống mào chậu trái; gãy xƣơng sƣờn bên trái từ số III đến số X bên trái; chảy máu khoang ngực; dập phổi; biến dạng cẳng chân phải; gãy 1/3 giữa xƣơng cẳng chân phải. Nguyên nhân tử vong: Chấn thƣơng ngực kín (gãy nhiều xƣơng sƣờn, chảy máu khoang ngực, dập phổi).

Sau khi tai nạn xảy ra tai nạn giao thông T đƣa bà L đi cấp cứu. Đến ngày 25/3/2025, T có đơn trình báo đến Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Hải Dƣơng và giao nộp xe mô tô biển số 34S1- 001.... do T điều khiển gây tai nạn giao thông nêu trên.

Về trách nhiệm dân sự: Bị can đã thỏa thuận và tự nguyện bồi thƣờng về trách nhiệm dân sự cho gia đình bà L tổng số tiền là 280.000.000 đồng. Anh Nguyễn Văn G là ngƣời đại diện hợp pháp của ngƣời bị hại đã nhận đủ số tiền trên và không có yêu cầu, đề nghị gì khác.

Tại bản Cáo trạng số: 36/CT-VKSTK ngày 14/6/2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tứ Kỳ truy tố bị cáo Vũ Văn T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đƣờng bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự (BLHS).

Tại phiên toà: VKSND huyện Tứ Kỳ giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX): Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, khoản 1 và khoản 2 Điều 60 BLHS. Tuyên bố bị cáo Vũ Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đƣờng bộ”; xử phạt Vũ Văn T từ 12 đến 15 tháng tù nhƣng cho hƣởng án treo, thời gian thử thách từ 24 tháng đến 30 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm, giao bị cáo cho chính quyền địa phƣơng nơi bị cáo cƣ trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Về trách nhiệm dân sự: Không phải giải quyết; Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng và trả lại giấy phép lái xe cho bị cáo. Về xử lý vật chứng: không phải giải quyết; Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Bị cáo Vũ Văn T đã thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của mình, đúng nhƣ cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Tứ Kỳ đã truy tố, bị cáo rất hối hận về hành vi của mình, đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Anh Nguyễn Văn G đại diện gia đình bị hại xác nhận đã nhận đủ tiền bồi thƣờng, không yêu cầu bồi thƣờng gì thêm về trách nhiệm dân sự và đề nghị giải quyết trách nhiệm hình sự theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan, ngƣời tiến hành tố tụng là hợp pháp.

Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai nhân chứng, biên bản khám nghiệm hiện trƣờng, biên bản khám nghiệm phƣơng tiện, biên bản khám nghiệm tử thi, kết luận giám định pháp y và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 20 giờ, ngày 22/3/2025 tại Km25+471 đƣờng tỉnh 391 thuộc địa phận thôn H, xã L, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng, Vũ Văn T điều khiển xe mô tô biển số 34S1-001.... hƣớng Quý Cao đi thị trấn Tứ Kỳ thiếu quan sát, không giảm tốc độ khi đi qua khu vực đông dân cƣ, không điều khiển xe đi về bên phải theo chiều đi của mình dẫn đến va chạm vào ngƣời bà Nguyễn Thị L đang đi bộ sang đƣờng (đi từ lề đƣờng bên phải sang bên trái hƣớng Quý Cao đi thị trấn Tứ Kỳ). Hậu quả bà L bị thƣơng đƣợc đƣa đi cấp cứu tại bệnh viện đến chiều ngày 05/4/2025 tử vong. Bị cáo là ngƣời có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, mặc dù có giấy phép lái xe theo quy định nhƣng khi tham gia giao thông, đến khu vực đông dân cƣ không giảm tốc độ, không đi về phía bên phải theo chiều đi của mình, đã xâm phạm trật tự an toàn giao thông đƣờng bộ, sự hoạt động bình thƣờng của các phƣơng tiện giao thông đƣờng bộ, vi phạm Điều 10, Điều 12, Điều 13 Luật giao thông đƣờng bộ nên đã gây tai nạn giao thông, hậu quả làm 01 ngƣời chết đã đủ cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đƣờng bộ”, quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 BLHS, nhƣ quyết định truy tố của VKSND huyện Tứ Kỳ là có căn cứ, đúng ngƣời, đúng tội và đúng pháp luật.

Xét tính chất hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, điều kiện nhân thân của bị cáo, thấy rằng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, quá trình điều tra và tại phiên toà thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi xảy ra sự việc, bị cáo cùng gia đình bị hại đƣa bà L đi cấp cứu và sau đó đã đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Hải Dƣơng trình báo, giao nộp phƣơng tiện vi phạm nên đƣợc hƣởng tình tiết “Đầu thú”; khi bà L nằm viện và khi chết, bị cáo đều hỏi thăm và đã bồi thƣờng cho gia đình ngƣời bị hại tổng số tiền 280 triệu động và trong vụ án này bị hại cũng có một phần lỗi khi đi bộ sang đƣờng ở nơi không có vạch kẻ đƣờng thiếu chú ý quan sát, không đảm bảo an toàn nên bị cáo đƣợc hƣởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 BLHS, vì vậy HĐXX sẽ xem xét, giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt thể hiện tính khoan hồng của pháp luật. Xét bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cƣ trú rõ ràng, đƣợc hƣởng nhiều tình tiết giảm nhẹ, đồng thời trong vụ án này bị hại cũng có một phần lỗi khi sang đƣờng đi bộ không đảm bảo an toàn nên mới dẫn tới vụ tai nạn đáng tiếc. Vì vậy, dù không cần thiết buộc bị cáo phải cách ly khỏi xã hội một thời gian để chấp hành hình phạt tù mà cho bị cáo đƣợc hƣởng án treo, ấn định thời gian thử thách, giao bị cáo cho chính quyền địa phƣơng nơi bị cáo cƣ trú quản lý, giám sát cũng đủ tác dụng giáo dục riêng bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.

Về trách nhiệm dân sự: Sau khi gây tai nạn, bị cáo đã bồi thƣờng cho gia đình ngƣời bị hại số tiền 280 triệu đồng. Đại diện hợp pháp của ngƣời bị hại đã nhận đủ số tiền trên, không yêu cầu bồi thƣờng gì thêm về trách nhiệm dân sự nên không đặt ra giải quyết.

Về xử lý vật chứng và biện pháp tƣ pháp: Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA, biển số 34S1-001…. là của Vũ Văn T, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Hải Dƣơng đã trả lại cho bị cáo là phù hợp. Do bị cáo sử dụng xe máy làm phƣơng tiện đi lại nên không áp dụng hình phạt bổ sung là cấm bị cáo hành nghề lái xe. Giấy phép lái xe số AU 788637 do Sở giao thông vận tải tỉnh Hải Dƣơng cấp ngày 02/5/2012 trả lại cho bị cáo ngay tại phiên tòa

Về án phí: Bị cáo phạm tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thƣờng vụ Quốc hội về...án phí và lệ phí Toà án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 1 và khoản 2 Điều 65 BLHS.

1. Tuyên bố: Bị cáo Vũ Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đƣờng bộ”.

Xử phạt bị cáo Vũ Văn T 12 (Mười hai) tháng tù cho hƣởng án treo, thời gian thử thách 24 (Hai mươi bốn) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Vũ Văn T cho UBND xã V, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng (sau ngày 01/7/2025 là UBND xã C, TP Hải Phòng) giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trƣờng hợp ngƣời đƣợc hƣởng án treo thay đổi nơi cƣ trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, ngƣời đƣợc hƣởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể buộc ngƣời đƣợc hƣởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hƣởng án treo.

2. Về biện pháp tƣ pháp và xử lý vật chứng: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 46, khoản 2 Điều 47 BLHS; điểm b khoản 3 Điều 106 BLTTHS. Trả lại bị cáo Vũ Văn T 01 Giấy phép lái xe số AU 788… do Sở giao thông vận tải tỉnh Hải Dƣơng cấp ngày 02/05/2012 kèm theo trong hồ sơ vụ án (trả ngay cho bị cáo tại phiên tòa).

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS; Điều 6; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thƣờng vụ Quốc hội về ...án phí và lệ phí Toà án. Bị cáo Vũ Văn T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 BLTTHS. Bị cáo, ngƣời đại diện hợp pháp cho ngƣời bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.

Cỡ chữ