- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Văn Hưởng phạm tội Sử dụng trái phép chất ma túy - phạm tội sử dụng trái phép chất ma túy (điều 256a Luật sửa đổi, bổ sung một số điều củ…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Văn H phạm tội “Sử dụng trái trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 – PHÚ THỌ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 35/2025/HS-ST Ngày 19 - 11 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 – PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Ngọc Phượng
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Lê Thị Hương
2. Bà Nguyễn Thị Ngọc Bích
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hải Yến - Là Thư ký Tòa án nhân nhân khu vực 10 - Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 - Phú Thọ tham gia phiên toà: Ông Phạm Tiến Tuân - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 11 năm 2025 tại trụ sở UBND xã Vĩnh An, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm lưu động công khai vụ án hình sự thụ lý số: 27/2025/TLST-HS ngày 24 tháng 10 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 33/2025/HSST ngày 06 tháng 11 năm 2025 đối với bị cáo:
Lê Văn H, sinh ngày 25/5/1981 tại xã T, tỉnh P; trú tại: Thôn T, xã T, tỉnh P; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 03/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Đảng, đoàn thể: Không; con ông Lê Văn L (đã chết) và bà Thân Thị X; vợ là Phan Thị H; con: 03 con; tiền án: Không; tiền sự: 01 tiền sự, cụ thể: Tại Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 13/QĐ-TA ngày 24/8/2022 của Toà án nhân dân huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc (cũ) buộc Hưởng đi cai nghiện 21 tháng. Đến ngày 20/6/2024 H chấp hành xong; nhân thân: Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 48/2020/HS-ST ngày 29/7/2020 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc (cũ) xử phạt Lê Văn H 01 năm 03 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đến ngày 06/5/2021, Hưởng chấp hành xong toàn bộ bản án.
Tại Quyết định 236/QĐ-UBND ngày 20/6/2024 của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân thị trấn Thổ Tang, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc (nay là UBND xã Thổ Tang, tỉnh Phú Thọ) quyết định quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú đối với Lê Văn H thời hạn 02 năm kể từ ngày 20/6/2024 đến ngày 20/6/2026.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/8/2025. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 02 Công an tỉnh Phú Thọ. “Có mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào hồi 07 giờ 30 phút ngày 11/8/2025, trong quá trình thực hiện công tác quản lý địa bàn và quản lý các đối tượng liên quan đến ma túy nhằm bảo đảm an ninh, trật tự tại xã T, tỉnh Ph, Công an xã Thổ Tang đã mời Lê Văn H, sinh năm 1981; trú tại thôn T, xã T là đối tượng đang bị quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú theo Quyết định số 236 ngày 20/6/2024 của Chủ tịch UBND xã Thổ Tang đến trụ sở Công an xã để kiểm tra. Quá trình làm việc, Công an xã Thổ Tang phối hợp với Trạm Y tế Tuân Chính, xã Thổ Tang tiến hành thu mẫu nước tiểu của Hưởng để test nhanh, kết quả cho thấy mẫu nước tiểu dương tính với chất ma túy Methamphetamine và MDMA. Công an xã Thổ Tang lập biên bản xác định H đã sử dụng ma túy vào ngày 10/8/2025 tại khu vực chợ đầu mối thuộc xã Vĩnh Thành, tỉnh Phú Thọ, đồng thời thu mẫu nước tiểu để xử lý và báo cáo Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Phú Thọ theo quy định.
Ngày 11/8/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Phú Thọ ban hành Quyết định trưng cầu giám định số 6089, đề nghị Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh giám định mẫu nước tiểu đã thu của Lê Văn H. Tại Kết luận giám định số 1324 ngày 16/8/2025, Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Phú Thọ kết luận: “Tìm thấy chất ma túy Methamphetamine trong mẫu chất lỏng màu vàng ghi là mẫu nước tiểu của Lê Văn Hưởng, sinh năm 1981, trú tại thôn Trúc Lâm, xã Thổ Tang, tỉnh Phú Thọ gửi đến giám định. Methamphetamine là chất ma túy thuộc Danh mục IIC, số thứ tự 247 Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ”.
Tại cơ quan điều tra, Lê Văn H khai: Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 10/8/2025, H đi bộ đến khu vực chợ đầu mối xã Vĩnh Thành để tìm việc bốc dỡ hàng hóa. Tại vỉa hè phía phải dãy nhà xây thô (hướng ra Quốc lộ 2A), Hưởng thấy một xe ô tô đầu kéo và sơ mi rơ-moóc đang dừng đỗ. H đến hỏi thì gặp một người đàn ông khoảng hơn 30 tuổi, dáng người to béo, cao khoảng 1,60 m đang ngồi ăn uống trên vỉa hè. Người đàn ông rủ H “vào đây ăn tối”, đồng thời dùng tờ giấy bạc hơ lửa để hít khói ma túy. Sau khi sử dụng xong, người này hỏi H “Làm tí không?”. Do bản thân nghiện ma túy và bị kích thích, Hưởng đồng ý. Người đàn ông tự giới thiệu tên là “Trung”, lái xe công-te-nơ chở cá khô đông lạnh. Trung đưa cho Hưởng tờ giấy bạc chứa tinh thể dạng đá màu trắng và hồng. Hưởng dùng bật lửa hơ phía dưới và hít khói ma túy 03 lần, sau đó trả lại cho T. H đi về, còn Trung ở lại. Đến ngày 11/8/2025, Công an xã Thổ Tang triệu tập Hưởng để test ma túy như đã nêu.
Tại Cáo trạng số: 03/CT-VKS-KV10 ngày 23 tháng 10 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 – Phú Thọ truy tố bị cáo Lê Văn H về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 256a Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2025.
Tại phiên toà, Kiểm sát viên phát biểu luận tội đối với bị cáo: Giữ nguyên Cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo Lê Văn H. Đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Lê Văn H phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”.
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 256a; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2025, xử phạt:
Bị cáo Lê Văn H từ 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù đến 02 (Hai) năm 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 11 tháng 8 năm 2025.
Đề nghị án phí theo quy định pháp luật.
Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo Lê Văn Hưởng thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của mình như nội dung nêu trên và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Phú Thọ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 – Phú Thọ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về nội dung vụ án: Tại cơ quan điều tra và tại phiên toà, bị cáo Lê Văn Hưởng khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 – Phú Thọ. Lời khai của bị cáo phù hợp với tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ, đủ cơ sở kết luận:
Ngày 10/8/2025, tại khu vực chợ đầu mối thuộc xã Vĩnh Thành, tỉnh Phú Thọ, Lê Văn H là đối tượng đang bị quản lý sau cai nghiện ma túy theo Quyết định số 236/QĐ-UBND ngày 20/6/2024 của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân thị trấn Thổ Tang, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc từ ngày 20/6/2024 đến ngày 20/6/2026 đã có hành vi sử dụng ma túy, loại Methamphetamine. Ngày 11/8/2025, tại trụ sở Công an xã Thổ Tang, tỉnh Phú Thọ đã thu giữ mẫu nước tiểu của Hưởng. Ngày 16/8/2025, Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Phú Thọ có Kết luận giám định số 1324/KL-KTHS, kết luận: “Tìm thấy chất ma túy Methamphetamine trong mẫu chất lỏng màu vàng ghi là mẫu nước tiểu của Lê Văn Hưởng, sinh năm 1981, trú tại thôn T, xã T, tỉnh P gửi đến giám định. Methamphetamine là chất ma túy thuộc Danh mục IIC, số thứ tự 247 Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ”.
Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy trong thời gian quản lý sau cai nghiện của Lê Văn H đã phạm vào tội “Sử dụng trái trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 256a Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2025. Điều luật quy định:
“1. Người nào sử dụng trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 03 năm:
a) ...
b) Đang trong thời hạn quản lý sau cai nghiện theo quy định của Luật phòng, chống ma túy;”
. Xét thấy, vụ án có tính chất ít nghiêm trọng nhưng hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất ma túy. Ma túy là nguyên nhân phát sinh nhiều tệ nạn xã hội và tội phạm khác, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự, an toàn xã hội và tạo tâm lý lo lắng trong quần chúng nhân dân. Trong bối cảnh tình hình tội phạm ma túy ngày càng gia tăng và diễn biến phức tạp, Nhà nước ta đang triển khai nhiều biện pháp nhằm ngăn chặn, đẩy lùi ma túy ra khỏi đời sống xã hội. Do đó, cần xử lý nghiêm đối với bị cáo để giáo dục riêng và răn đe, phòng ngừa chung.
. Xét hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy rằng:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Lê Văn H không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu; đã nghiện ma túy lâu năm và trước đó đã bị Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Sau khi chấp hành xong hình phạt tù ngày 24/8/2022, bị cáo tiếp tục bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính “Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc”. Mặc dù đã từng phải chấp hành hình phạt tù và biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, nhưng bị cáo vẫn không từ bỏ được ma túy. Điều này cho thấy bị cáo không chịu tu dưỡng, rèn luyện; ý thức chấp hành pháp luật kém, coi thường các quy định của Nhà nước về phòng, chống ma túy. Vì vậy, cần áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc, buộc bị cáo phải cách ly khỏi xã hội một thời gian theo mức đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhằm giúp bị cáo từ bỏ ma túy, đồng thời bảo đảm hiệu quả giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.
. Về người tên “T” mà H khai đã đưa ma túy cho H sử dụng: Cơ quan điều tra rà soát trên địa bàn và xác định có trường hợp lái xe công-te-nơ chở cá khô đông lạnh là anh Phạm Trung T, sinh năm 1988, trú tại xã T, tỉnh G, là lái xe cho Công ty TNHH Thanh Danh Tiến, điều khiển xe đầu kéo 72F-005.94 kéo sơ mi rơ-moóc 72RM-012.94 giao hàng tại chợ đầu mối. Cơ quan điều tra mời Tín làm việc và test nhanh nước tiểu, kết quả âm tính với ma túy. Mẫu nước tiểu của Tín được niêm phong và gửi giám định theo quy định. Tại Kết luận giám định số 1380 ngày 19/8/2025, Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Phú Thọ xác định: “Không tìm thấy các chất ma túy thường gặp trong mẫu nước tiểu của Phạm Trung T...”. Quá trình làm việc với Cơ qaun điều tra, anh T khai không sử dụng ma túy và không quen biết Lê Văn H.
Cơ quan điều tra đã thực hiện các biện pháp xác minh khác nhưng đến nay chưa xác định được người tên “Trung” theo lời khai của H. Vì vậy, Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra, khi có căn cứ sẽ xử lý sau là đúng quy định của pháp luật.
. Về án phí: Buộc bị cáo Lê Văn H phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Lê Văn H phạm tội “Sử dụng trái trái phép chất ma túy”.
2. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 256a; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Bộ luật Hình sự, xử phạt:
Bị cáo Lê Văn H 02 (Hai) năm 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 11 tháng 8 năm 2025.
3. Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Buộc bị cáo Lê Văn H phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm
4. Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu xét xử phúc thẩm. Nơi nhận:
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Sở tư pháp tỉnh Phú Thọ;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ
- THADS tỉnh Phú Thọ;
- Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ;
- CQĐT - CA tỉnh Phú Thọ;
- CQTHAHS - CA tỉnh Phú Thọ;
- Trại Tạm giam số 2 Công an tỉnh Phú Thọ;
- Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 - Phú Thọ;
Phạm Thị Ngọc Phượng
- Bị cáo;
- Lưu HS, VP, THAHS. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Ngọc Triển Lê Thị Hòa
Phạm Thị Ngọc Phượng THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Quang Thái Lê Thị Bích Thuần
Nguyễn Thị Thanh Lan Nơi nhận:
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Sở tư pháp tỉnh Vĩnh Phúc;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ
- Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc;
- Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc;
- Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Tường;
- CQĐT - CA huyện Vĩnh Tường;
- CQCSTHAHS-CA huyện Vĩnh Tường;
- Chi cục THADS huyện Vĩnh Tường;
- Bị cáo; bị hại; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan;
- Trại tạm giam Công an tỉnh Vĩnh Phúc;
- Lưu HS, VP, THAHS.
Nguyễn Thị Thanh Lan THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thị Thanh Lan
| Nơi nhận: - Sở tư pháp; - Viện KSND tỉnh Vĩnh Phúc; - VKSND huyện Vĩnh Tường; - CQĐT - CA huyện Vĩnh Tường; - CQCSTHAHS-CA huyện Vĩnh Tường; - Chi cục THADS huyện Vĩnh Tường; - Bị cáo; - UBND xã nơi bị cáo cư trú; - Lưu HS, VP, THAHS. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Nguyễn Quang Thái Nguyễn Hữu Lợi | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Thanh Lan THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thanh Lan |