- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Đức Sơn - Tội Đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thư ng vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN GIANG TỈNH HƢNG YÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 35/2025/HS-ST Ngày: 04/4/2025 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN GIANG, TỈNH HƢNG YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thoa
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Quốc Doanh và bà Hoàng Thị Thắm.
- Thƣ ký phiên tòa: Bà Lưu Thị Thủy - Thư ký TAND huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên.
- Đại diện VKSND huyện Văn Giang tham gia phiên tòa: Bà Lưu Thị Cúc - Kiểm sát viên.
Ngày 04/4/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 37/2025/TLST-HS ngày 14/3/2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 34/2025/QĐXXST-HS ngày 24/3/2025 đối với bị cáo:
Nguyễn Đức S; Sinh năm 1997; Tên gọi khác: Không có; Giới t nh: Nam. H TT/chỗ ở: thôn C, xã X, huyện V, tỉnh Hưng Yên. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: inh; Tôn giáo: không. Trình độ học vấn: 12/12. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Họ và tên bố: Nguyễn Văn S1, sinh năm: 1970; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị H, sinh năm: 1972; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Gia đình có 02 anh em, bị cáo là thứ nhất. V , con: Chưa có. Tiền án, tiền sự: Chưa có. S bị tạm giữ từ ngày 16/12/2024 đến ngày 25/12/2024 đư c áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.
* Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Anh Vàng Văn Q, sinh năm 2003 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Đ, xã P, huyện T, tỉnh Lai Châu.
2. Anh Hà Văn S2, sinh năm 2000 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Bản H, xã T, huyện T, tỉnh Lai Châu.
* Ngƣời làm chứng:
Ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1958 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn C, xã X, huyện V, tỉnh Hưng Yên.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đư c tóm tắt như sau:
Buổi chiều ngày 16/12/2024 Nguyễn Đức S sinh năm 1997, hộ khẩu thư ng trú (H TT : thôn C, xã X, huyện V, đi bộ một mình từ nhà ở thôn C, xã X, huyện V đến quán bán nước nhà ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1958 (là bác của S) ở cùng thôn. Mục đ ch S đến quán nhà ông D để xem có công nhân nào đến uống nước mà có nhu cầu mua số lô, số đề thì S sẽ bán cho họ. Khi S đến nơi, thì ông D nh S trông quán hộ và ông D đi tập thể dục. Trong quá trình mà S ngồi trông quán cho ông D, thì S đã lần lư t bán số lô, số đề cho một số ngư i cụ thể như sau:
Bán cho ngư i thứ nhất là một đàn ông (không r lai lịch vào lúc 17 gi 10 phút với 01 số lô 57 là 80 điểm x 23.000đ/điểm 1.840.000đ; 01 số đề 57 180.000đ. Tổng cộng là 2.020.000đ.
Bán cho ngư i thứ 2 là một ngư i phụ nữ (không r lai lịch vào lúc 17 gi 15 phút với 07 số lô là 51, 56, 14, 94, 39, 48, 58, mỗi số 10 điểm x 23.000đ/điểm = 1.610.000đ; 03 bộ lô xiên ba gồm (51, 43, 49 , (14, 94, 51 và (58, 39, 14 ; 01 bộ xiên bốn (30, 43, 77, 79 , mỗi bộ số lô xiên 05 điểm x 10.000đ/điểm x 4 bộ = 200.000đ. Tổng cộng là 1.810.000đ.
Bán cho ngư i thứ 3 có tên là C1 d ng số điện thoại 0817511391 vào lúc 17 gi 20 phút với 10 số lô gồm 34, 43, 35, 53, 46, 64, 79, 97, 06, 60, mỗi số 10 điểm x 23.000đ/điểm 2.300.000đ; các số đề đầu 0, 2, 4, 6, 8 mỗi số là 20.000đ = 1.000.000đ. Tổng cộng là 3.300.000đ, nhưng C1 chưa trả tiền cho S.
Bán cho ngư i thứ 4 là Vàng Văn Q sinh năm 2003, H TT: Đội 11, xã P, huyện T, tỉnh Lai Châu 15 số đề là 72, 32, 67, 91, 65, 71, 81, 92, 63, 18, 81, 82, 95, 69, 96 (15 số x 50.000đ = 750.000đ ; 06 số lô là 30, 56, 28, 92, 71, 17 (mỗi số lô 10 điểm, 1 điểm = 23.000đ); tổng 60 điểm lô x 23.000đ = 1.380.000đ. Tổng cộng là 2.130.000đ.
Bán cho ngư i thứ 5 là Hà Văn S2, sinh năm 2000, H TT: Bản Hì, xã T, huyện T, tỉnh Lai Châu 15 số đề là 45, 50, 19, 91, 27, 75, 89, 98, 26, 62, 53, 32, 36, 63, 85 (15 số x 50.000đ = 750.000đ ; các số lô là 36, 19, 91, 25 (mỗi số lô 10 điểm, 1 điểm = 23.000đ), tổng 4 số lô 40 điểm x 23.000đ = 920.000đ. Tổng cộng là 1.670.000đ.
Như vậy, tổng số tiền S đánh bạc dưới hình thức ghi số lô số đề cho các đối tư ng nêu trên là 10.930.000đồng. Đến khoảng 17 gi 40 phút cùng ngày, khi S vừa thực hiện việc bán số lô và số đề cho Q và S2 như nêu ở trên thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V kiểm tra bắt quả tang. Thu giữ trên mặt bàn ph a trước chỗ S ngồi có số tiền 3.800.000đ; 01 chiếc bút bi màu xanh; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu HUAWEI Nova 5T, bên trong lắp 02 sim có số thuê bao là 0373191140 và 0967234697; 02 mảnh giấy có k ch thước (4,4 x10 cm và (4,4 x 11,6 cm trong vỏ hộp thuốc lá Thăng Long (gọi là cáp để ghi số đề và thu tại túi quần ph a trước bên phải của S đang mặc là số tiền 3.830.000đ.
C ng ngày 16/12/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện V đã tiến hành khám x t khẩn cấp nơi ở của S ở thôn C, xã X nhưng không phát hiện thu giữ đư c tài liệu, đồ vật gì có liên quan.
Cơ quan điều tra cũng đã làm r hình thức mua bán số lô, số đề do S thực hiện với mọi ngư i đư c thể hiện như sau: S sẽ lấy kết quả sổ số kiến thiết Miền B mở thưởng vào lúc 18 gi 15 phút đến 18 gi 30 phút trong ngày để đối chiếu với các số lô, số đề đã bán cho ngư i mua (hay còn gọi là ngư i chơi để so sánh. S căn cứ vào 02 số cuối của các giải gọi là “lô thư ng”; 02 số cuối của giải đặc biệt gọi là “đề”; 03 số cuối của giải đặc biệt gọi là “3 càng”. Ngoài ra còn có lô: “xiên 2”, “xiên 3”, “xiên 4” tương ứng với 02, 03, 04 cặp số lô thư ng. S quy ước sẽ bán số lô thư ng với giá 23.000đ/điểm, nếu ngư i chơi trúng thì sẽ nhận lại 80.000đ/điểm; lô xiên với giá 10.000đ/điểm, trúng lô xiên 2 sẽ nhận lại 100.000đ/điểm, trúng lô xiên 3 sẽ nhận lại 400.000đ/điểm, trúng lô xiên 4 sẽ nhận lại 1.000.000đ/điểm; nếu các số lô về bao nhiêu lần thì ngư i chơi sẽ đư c nhận lại số tiền tương ứng với số lần đó; còn đối với số đề thì ngư i chơi đánh 1.000đ, trúng sẽ đư c nhận lại 80.000đ; trúng số 3 càng thì ngư i chơi sẽ đư c nhận lại 400.000đ.
Trong quá trình điều tra, S khai nhận: chiều ngày 16/12/2024 khi S đến nhà ông D thì có mang theo 01 chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu HUAWEI Nova 5T gắn 02 sim có các số thuê bao là 0967234697 và 0373191140 đều đăng ký mang tên của S; 01 chiếc bút bi màu xanh; đồng th i S có nhặt 01 vỏ hộp đựng thuốc lá Thăng Long rồi xé nhỏ thành các cáp ghi các số lô, số đề bán cho ngư i chơi, làm cơ sở để ngư i chơi đối chiếu, nếu trúng thì đư c lấy tiền của S. Đối với ngư i mua thứ nhất, thứ hai cùng với Q và S2 thì đều đến mua số lô, số đề trực tiếp với Q, nên đều đư c Q ghi cáp cho họ. Riêng đối với ngư i có tên là C1 đã mua số lô, số đề của S thông qua số điện thoại 0817511391 gọi đến cho S theo số 0967234697. Do S đều sử dụng 02 số điện thoại của S để đăng ký Zalo (số C có tên là “S” và số 0967234697 có tên “Ssssss” . Nên S đã sử dụng tài khoản zalo có tên là “S” để nhắn tin lại cho C1 các số lô, số đề mà C1 đã mua để xác nhận. Ngoài ra, toàn bộ các số lô, số đề đã bán cho những ngư i chơi khác thì S đều lấy điện thoại để soạn tin nhắn từ tài khoản zalo có tên là “S” gửi sang tài khoản có tên là “Ssssss” để lưu lại các số lô, số đề đã bán làm cơ sở để đối chiếu với những ngư i chơi. Sau khi S bán số lô, số đề cho những ngư i nói trên thì S không chuyển các số lô, số đề đã bán cho bất kỳ ai mà S tự trả tiền cho những ngư i chơi đã trúng số lô, số đề.
Ngày 16/12/2024 cơ quan điều tra cũng đã tiến hành kiểm tra điện thoại thu giữ của S xác định: Tại ứng dụng Zalo tên “S” đăng ký số điện thoại 0373191140 nhắn tin đến tài khoản Zalo tên “Ssssss” số điện thoại 0967234697 có các nội dung mà S ghi lại toàn bộ số lô, số đề đã bán cho 5 ngư i chơi.
Quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT Công an huyện V đã đề nghị tra cứu xác định đư c chủ thuê bao số điện thoại 0817511391 là Nguyễn Văn C1, sinh năm 1979, HKTT: thôn T, xã Y, huyện Y, tỉnh Hưng Yên. Nên cơ quan CSĐT Công an huyện V đã triệu tập C1 để tiến hành điều tra. Tuy nhiên C1 đã đi khỏi nhà cách nay vào khoảng 10 năm, gia đình và địa phương không biết C1 đi đ u làm gì; nên cơ quan điều tra vẫn chưa làm việc đư c với C1. Còn đối với 02 ngư i (không r lai lịch đã mua số lô, số đề của S, không có căn cứ để cơ quan điều tra xác minh xử lý. Riêng đối với ông D có nh S trông quán hộ để đi tập thể dục, ông D không biết S đánh bạc dưới hình thức bán số lô số đề cho ngư i khác tại quán của mình, nên cũng không có căn cứ để xử lý đối với ông D.
Hành vi của Vàng Văn Q và Hà Văn S2 chưa đủ căn cứ xác định là tội phạm. Nên ngày 14/02/2025, Công an huyện V đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành ch nh đối với Q và S2.
Tại bản cáo trạng số 39/CT-VKSVG ngày 14/3/2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên đã truy tố Nguyễn Đức S về tội “Đánh bạc” quy định tại Khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà hôm nay:
- Bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu tại Cáo trạng, tỏ thái độ ăn năn hối cải, xin đư c giảm nhẹ hình phạt.
-Đại diện Viện kiểm sát nh n d n huyện V tham gia phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng x t xử:
Áp dụng: - Khoản 1 Điều 321; Điều 35; Điểm a khoản 1 Điều 46; điểm a, b khoản 1 Điều 47; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự;
- Khoản 1, 2 Điều 106; Điều 135; Điều 136; Điều 292, Điều 293; Điều 299; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự;
-Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thư ng vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức S phạm tội “Đánh bạc”.
Xử phạt Bị cáo Nguyễn Đức S từ 50.000.000đ đến 100.000.000đ nộp vào Ng n sách Nhà nước.
Về vật chứng đề nghị: Tịch thu phát mại sung vào Ngân sách nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu HUAWEI Nova 5T, bên trong có lắp 02 sim số thuê bao 0373191140 và 0967234697 thu giữ của bị cáo S. Tịch thu sung vào Ng n sách Nhà nước số tiền 7.630.000đ thu giữ của bị cáo S. Tịch thu tiêu hủy 01 chiếc bút bi màu xanh.
Về án ph đề nghị: Buộc bị cáo phải chịu án ph theo quy định pháp luật.
Bị cáo S nhất trí với luận tội, không tranh luận gì.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đư c tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về tố tụng:
-Cơ quan điều tra, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân và kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo, ngư i có quyền l i nghĩa vụ liên quan không có ý kiến khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, ngư i tiến hành tố tụng đã thực hiện. Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan, ngư i tiến hành tố tụng đều đảm bảo đúng pháp luật.
-Tại phiên tòa, ngư i có quyền l i nghĩa vụ liên quan là anh Vàng Văn Q và anh Hà Văn S2, ngư i làm chứng ông Nguyễn Văn D vắng mặt không có lý do, bị cáo, kiểm sát viên đề nghị xét xử vụ án vắng mặt họ. Xét thấy những ngư i vắng mặt đã có l i khai lưu tại hồ sơ vụ án nên không ảnh hưởng đến việc xét xử. Căn cứ khoản 1 Điều 292, khoản 1 Điều 293 của Bộ luật tố tụng hình sự tiếp tục xét xử vụ án.
. Về hành vi phạm tội: L i khai của bị cáo tại phiên tòa hôm nay hoàn toàn phù h p với l i khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù h p với l i khai của những ngư i có quyền l i nghĩa vụ liên quan, ngư i làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận: Tr n h n h i ian
i n
i
h n
i
n n
a n Nguyễn Văn D thôn C, xã X, huyện V, tỉnh H n Yên; Nguyễn Đức S
h nh i nh b d i hình thứ b n
h V n Văn Q ội A, xã P, huyện T, tỉnh Lai Châu i i n
; H Văn S B n H, xã T, huyện T, tỉnh Lai Châu v i s ti n
; Nguyễn Văn C inh năm 9 9 HKTT: thôn T, xã Y, huyện Y, tỉnh H n Yên v i s ti n 3.330.000 n
i n h h a r ai ịch v i
i n 3.830.000 . Tổng s ti n mà S sử dụng vào việ
nh b
c xác ịnh là 10.930.000 .
Bị cáo là ngư i có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức đư c hành vi đánh bạc là vi phạm pháp luật nhưng vì hám l i mà vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo đã đủ dấu hiệu cấu thành tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Giang truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật nêu trên là đúng ngư i, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trật tự quản lý hành chính, an toàn xã hội, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương. Đánh bạc là một tệ nạn xã hội, ảnh hưởng nghiêm trọng đến kinh tế của bản th n và gia đình bị cáo, là nguyên nhân gây ra mâu thuẫn gia đình và phát sinh các hành vi vi phạm pháp luật khác. Vì vậy cần xét xử nghiêm minh để cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
. Về nh n th n, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt:
-Về nh n th n: Bị cáo có nh n th n tốt, chưa có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú r ràng, có nghề nghiệp ổn định.
-Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo bán số lô, số đề 05 lần cho 05 ngư i khác nhau nhưng mỗi lần đều dưới 05 triệu đồng nên hành vi của bị cáo không thuộc trư ng h p phạm tội nhiều lần. Vì vậy bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
-Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải; Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trư ng h p t nghiêm trọng; bị cáo có đơn xin giảm nhẹ hình phạt đư c ch nh quyền nơi bị cáo thư ng trú xác nhận nên sẽ cho bị cáo đư c hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Về hình phạt: Xét bị cáo còn trẻ, chưa có v con, tội phạm bị cáo thực hiện là ít nghiêm trọng, bị cáo đã ăn năn, hối cải, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú r ràng, có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên sẽ khoan hồng đối với bị cáo, xử phạt bị cáo một mức hình phạt tiền cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục đối với bị cáo, qua đó cũng góp phần tuyên truyền, giáo dục pháp luật rộng rãi trong nhân dân.
. Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:
-01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu HUAWEI Nova 5T, bên trong có lắp 02 sim số thuê bao 0373191140 và 0967234697 là công cụ bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên sẽ tịch thu cho phát mại sung vào Ng n sách nhà nước;
-Đối với 01 chiếc bút bi màu xanh là công cụ bị cáo sử dụng vào việc phạm tội, không còn giá trị sử dụng sẽ tịch thu cho tiêu hủy;
- Đối với số tiền 7.630.000đ thu giữ của bị cáo là tiền bị cáo thu l i bất chính từ việc đánh bạc nên sẽ tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước.
. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Đức S phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Các vấn đề khác:
Anh Vàng Văn Q d ng 2.130.000 đồng, anh Hà Văn S2 dùng 1.670.000 đồng để đánh bạc với S, hành vi của anh Q và anh S2 chưa đủ yếu tố cấu thành tội Đánh bạc nên Cơ quan Công an huyện V đã xử phạt vi phạm hành ch nh đối với anh Q và anh S2 là ch nh xác, đúng pháp luật.
Đối với anh Nguyễn Văn C1 mua 3.300.000đồng số lô, số đề của S nhưng chưa trả tiền, hiện không xác định đư c anh C1 đang ở đ u nên không có căn cứ xử lý.
Đối với ông Nguyễn Văn D nh bị cáo S trông quán hộ để đi tập thể dục, ông D không biết S đánh bạc tại quán nhà mình nên không có căn cứ xử lý.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1.Căn cứ vào:
- Khoản 1 Điều 321; Điều 35; Điểm a khoản 1 Điều 46; điểm a, b khoản 1 Điều 47; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự;
- Khoản 1, 2 Điều 106; Điều 135; Điều 136; khoản 1 Điều 292, khoản 1 Điều 293; Điều 299; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự;
-Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thư ng vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
2. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức S phạm tội “Đánh bạc”.
3. Xử phạt Bị cáo Nguyễn Đức S 50.000.000đ (Năm m ơi riệ ồng) nộp vào Ng n sách Nhà nước.
4. Về vật chứng:
- Tịch thu cho phát mại sung vào Ng n sách nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu HUAWEI Nova 5T, bên trong có lắp 02 sim số thuê bao 0373191140 và 0967234697 thu giữ của bị cáo S.
- Tịch thu sung vào Ng n sách Nhà nước số tiền 7.630.000đ thu giữ của bị cáo S.
- Tịch thu tiêu hủy 01 chiếc bút bi màu xanh.
5. Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Đức S phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, ngư i có quyền l i nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng có trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đư c bản án hoặc ngày bản án đư c niêm yết theo quy định pháp luật.
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Phòng KTNV&THA-TAND tỉnh Hưng Yên; - VKSND tỉnh Hưng Yên; - CA tỉnh Hưng Yên; - VKS huyện Văn Giang; - Chi cục THADS huyện Văn Giang; - UBND xã Xuân Quan; - Bị cáo, ngư i có QLNV liên quan - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA ĐỖ THỊ THOA |