vanban.org

Bản án 35/2025/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Bình Chánh, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 17/01/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt bị cáo Lê Long Hồ A: 05 (năm) năm tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Tổng hợp với hình phạt 09 năm tù tại Bản án số 254/2024/HS-ST ngày 30/9/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương đã xét xử bị cáo về các tội “Cố ý gây thương tích” và tội “Gây rối trật tự công cộng”. Buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung của của 02 Bản án là 14 (mười bốn) năm tù. … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "bị cáo Lê Long Hồ A đã phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 2 Đ…"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Lê Long Hồ A: 05 (năm) năm tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  • Căn cứ chính? Nghị quyết số Số: 02/2022/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số q…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BÌNH CHÁNH
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 35/2025/HS-ST
Ngày 17 – 01 – 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Thanh Lâm

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Đặng Văn Ẩn

2. Bà Nguyễn Thị Nguyên

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Khắc Tuấn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Minh Pháp - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 01 năm 2025 tại Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 410/2024/TLST-HS, ngày 25 tháng 12 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 13/2025/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 01 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lê Long Hồ A; Giới tính: Nam; sinh năm: 1988 tại tỉnh An Giang; Nơi thường trú: Khóm P, thị trấn P, huyện T, tỉnh An Giang; Nơi cư trú: Như trên; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 01/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Quan V (đã chết) và bà Lương Thị L; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân: Ngày 30/9/2024, Tòa án nhân dân thành phố Bên Cát, tỉnh Bình Dương xử phạt 07 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích” và 02 năm tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Tổng hợp hình phạt của 02 tội buộc bị cáo chấp hành hình 09 năm tù theo Bản án số 254/2024/HS-ST. (Tại phiên tòa bị cáo xác nhận đã nhận được Bản án, Quyết định thi hành án và không có kháng cáo Bản án này).

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/3/2024. (có mặt)

Bị hại:

1. Bà Thạch Thị Tuyết N (đã chết)

Người đại diện hợp pháp của bị hại:

1.1. Ông Thạch Q, sinh năm 1956; Nơi cư trú: Ấp Giồng Chùa, thị trấn H, huyện T, tỉnh Sóc Trăng. (vắng mặt)

1.2. Bà Lâm Thị H, sinh năm 1959; Nơi cư trú: Nhà trọ địa chỉ 62E/1 đường An Dương Vương, Phường A, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. (có mặt)

1.3. Ông Mai Quốc B, sinh năm 2000; Nơi cư trú: Ấp Vĩnh Phước, xã P, huyện C, tỉnh Long An (SĐT: 0936960776) (có mặt)

1.4. Em Mai Thạch Tuyết H, sinh ngày 05/6/2006; Nơi cư trú: Ấp Vĩnh Phước, xã P, huyện C, tỉnh Long An (SĐT: 0775955834). (có mặt)

Người đại diện theo ủy quyền của ông Thạch Q, bà Lâm Thị H, em Mai Thạch Tuyết H: Ông Mai Quốc B, sinh năm 2000. (có mặt)

2. Em Mai Thạch Tuyết H, sinh ngày 05/6/2006; Nơi cư trú: Ấp Vĩnh Phước, xã P, huyện C, tỉnh Long An. (có mặt)

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1/ Ông Mai Tấn Đ, sinh năm 1974; Nơi cư trú: Ấp Long Thới, xã L, huyện C, tỉnh Long An (Là cha của em H, đã ly hôn với bà N trước ngày xảy ra sự việc). (có mặt)

2/ Ông Đinh Hoàng V, sinh năm 1979; Nơi cư trú: Ấp Chánh, L, huyện B, tỉnh Long An (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 19 giờ 30 phút ngày 11/12/2022, bị cáo Lê Long Hồ A điều khiển xe mô tô hiệu Yamaha, loại Mio, biển số 62N1-005.60 lưu thông trên đường T14, hướng từ đường Đ đi cầu T, khi đi đến trước địa chỉ D14/23 Ấp 4, xã T, huyện Bình Chánh đã để xe lấn trái sang phần đường chiều ngược lại nên đụng vào phần đầu bên trái xe mô tô biển số 62M1-813.91 do bà Thạch Thị Tuyết N điều khiển phía sau chở Mai Thạch Tuyết H (con ruột bà N) đang lưu thông theo chiều ngược lại. Va chạm làm cả 02 xe mô tô và 03 người ngã xuống, bà N bị bất tỉnh, em H bị thương nặng được người dân đưa đến cấp cứu tại Bệnh viện Nguyễn Tri Phương. Hồ A bị thương được một người bạn đưa về nhà trọ tại xã L, huyện C, tỉnh Long An. Đến khoảng 09 giờ ngày 12/12/2022, bà Thạch Thị Tuyết N chết tại Bệnh viện Nguyễn Tri Phương nên gia đình đến Công an xã T trình báo. Sau đó, Công an xã lập hồ sơ vụ việc chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Chánh điều tra xử lý.

Ngày 13/02/2023, Trung tâm pháp y Thành phố Hồ Chí Minh có Kết luận giám định pháp y về tử thi số 2232/TT-22 kết luận nguyên nhân chết của Thạch Thị Tuyết N là: Xuất huyết màng não.

Ngày 18/5/2023, Trung tâm pháp y Thành phố Hồ Chí Minh có Kết luận giám định pháp y về thương tích số 294/TgT-23 kết luận thương tích của Mai Thạch Tuyết H: Tỉ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là: 56%.

Ngày 07/02/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Chánh trưng cầu giám định về dấu vết va chạm, chiều hướng va chạm, cơ cấu hình thành dấu vết trên xe mô tô biển số 62M1-813.91 và xe mô tô biển số 62N1-005.60.

Kết luận giám định số 1310/KL-KTHS ngày 06/3/2023 của Phân viện Khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh kết luận về dấu vết, chiều hướng va chạm giữa các phương tiện:

1. Dấu vết trượt xước, gãy vỡ, biến dạng các chi tiết phía trước bên trái xe mô tô biển số 62M1-813.91 (bánh trước, đĩa phanh, giảm xóc, cung trước chắn bùn bánh trước, yếm, sàn để chân trước, tay phanh, tay lái) có chiều từ trước về sau phù hợp dấu vết trượt xước, gãy vỡ, biến dạng các chi tiết phía trước bên trái xe mô tô biển số 62N1-005.60 (bánh trước, chắn bùn bánh trước, giảm xóc, đèn chuyển hướng, yếm, sàn để chân trước, ốp đầu xe, tay phanh, tay lái) có chiều từ trước về sau.

2. Dấu vết trượt xước các chi tiết bên phải xe mô tô biển số 62M1-813.91 (yếm, để chân sau, ốp pô) phù hợp va chạm với mặt đường.

Dấu vết trượt xước các chi tiết bên phải xe mô tô biển số 62N1-005.60 (tay phanh, sàn để chân trước, để chân sau) phù hợp va chạm với mặt đường.

3. Khi xảy ra tai nạn giao thông, xe mô tô biển số 62M1-813.91 chuyển động thằng trên đường T14 theo hướng từ cầu Tân Quý đi đường Đinh Đức Thiện và xe mô tô biển số 62N1-005.60 chuyển động thẳng theo hướng ngược lại.

4. Phía trước bên trái xe mô tô biển số 62M1-813.91 và phía trước bên trái xe mô tô biển số 62N1-005.60 là vị trí và chạm đầu tiên giữa hai phương tiện khi xảy ra tai nạn giao thông. Không đủ cơ sở xác định vị trí này chiếu xuống mặt đường thuộc phần đường bên nào.

5. Không phát hiện thấy dấu vết va chạm giữa xe mô tô biển số 62N1-005.60 và xe mô tô biển số 62M1-813.91 với người, phương tiện, vật cản khác khi xảy ra tai nạn giao thông.

Ngày 13/01/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Chánh trưng cầu giám định về tốc độ và tình trạng kỹ thuật của xe mô tô biển số 62M1-813.91 và xe mô tô biển số 62N1-005.60. Ngày 07/3/2023, Phân viện Khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh có Kết luận giám định số 989/KL-KTHS kết luận:

- Không đủ điều kiện giám định tình trạng kỹ thuật hệ thống phanh, hệ thống ga, hệ thống lái, hệ thống lốp của xe mô tô biển số 62N1-005.60 và xe mô tô biển số 62M1-813.91 trước và sau khi tham gia tai nạn giao thông.

- Sau khi tham gia tai nạn giao thông xe mô tô biển số 62N1-005.60 và xe mô tô biển số 62M1-813.91 không để lại dấu vết phanh tại hiện trường nên không đủ điều kiện xác định tốc độ của xe mô tô ngay trước khi xảy ra tai nạn giao thông.

Ngày 07/6/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Chánh yêu cầu xác định giá trị thiệt hại đối với xe mô tô biển số 62M1-813.91 và xe mô tô biển số 62N1-005.60. Ngày 25/6/2024, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Bình Chánh có Bản kết luận định giá tài sản số 1941/KL-HĐĐGTS kết luận:

- 01 xe mô tô biển số 62N1-005.60, loại MIO, hiệu Yamaha, SK: RLCM5WP204Y010845, SM: 5WP210845: Không xác định được bộ phận hư hỏng, mức độ hư hỏng nên không xác định giá.

- 01 xe mô tô biển số 62M1-813.91, loại SH Mode, hiệu Honda, SK: TLHJK0115LZ618064, SM: JK01E0033285: Không xác định được bộ phận hư hỏng, mức độ hư hỏng nên không xác định giá.

Tiến hành xác minh hệ thống biển báo giao thông trên tuyến đường T14, kết quả xác minh xác định: Tại đường T14, xã T, huyện Bình Chánh có lắp đặt các biển báo sau:

- Tại đầu đường T14 có lắp đặt biển báo hạn chế tải trọng toàn bộ xe không vướt quá 6 tấn. Biển báo số P115.

- Gần địa chỉ 16/21 Ấp 4, xã T, huyện Bình Chánh ở 02 bên lề đường T14 có lắp: biển số 201A “chỗ ngoặt nguy hiểm vòng bên trái” (tại lề phải đường T14 hướng từ đường Đinh Đức Thiện đi cầu Tân Quý). Biển số 201B “chỗ ngoặt nguy hiểm vòng bên phải” (tại lề phải đường T14 hướng từ cầu Tân Quý đi đường Đinh Đức Thiện).

Tại biên bản khám nghiệm hiện trường ngày 11/12/2022 thể hiện như sau: Tình trạng hiện trường khi tiến hành khám nghiệm đã xáo trộn một phần do đưa nạn nhân đi cấp cứu. Kết quả khám nghiệm hiện trường nơi xảy ra vụ việc là đoạn đường thẳng, được trải nhựa tương đối bằng phẳng, áp dụng cho tất cả các phương tiện lưu thông ngược chiều nhau, lòng đường rộng 4,1m. Tại địa điểm xảy ra tai nạn không có biển báo, cọc tiêu báo hiệu gì. Tại hiện trường: xe mô tô biển số 62N1-005.60 ngã phải, đầu xe hướng về đường Đinh Đức Thiện, đuôi xe hướng về cầu Tân Quý. Từ trục bánh trước và trục bánh sau xe mô tô đỗ vào lề chuẩn lần lượt là 2,1m và 2,3m. Xe mô tô biển số 62M1-813.91 ngã phải, đầu xe hướng về đường Đinh Đức Thiện, đuôi xe hướng về cầu Tân Quý. Từ trục bánh trước và trục bánh sau xe mô tô đo vào lề chuẩn lần lượt là 0,3m và 0,1m. Từ trục bánh sau xe mô tô biển số 62M1-813.91 đo đến trục bánh trước xe mô tô biển số 62N1-005.60 là 1,8m. Từ trục bánh trước xe mô tô biển số 62M1-813.91 đo đến điểm mốc là 3.0m. Ngoài ra, tại hiện trường không còn dấu vết, phương tiện nào khác liên quan đến vụ tai nạn.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, Lê Long Hồ A đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Hồ A không có giấy phép lái xe, trước khi điều khiển xe mô tô hiệu Yamaha, loại Mio, biển số 62N1-005.60, Hồ A đã uống khoảng 06 lon bia và điều khiển xe với tốc độ Nh khi gặp xe bà N đi ngược chiều mở đèn pha làm Hồ A bị chói mắt không quan sát được nên dẫn đến va chạm với xe bà N. Sau khi xảy ra tai nạn, Hồ A bị thương tích, nằm ở lề đường, một lúc sau có người bạn của Hồ A đi ngang qua thấy Hồ A bị tai nạn nên chở đến trạm y tế. Tại đây, bác sĩ kêu chở vào Bệnh viện để cấp cứu nhưng do không có tiền nên Hồ A kêu Hạnh chở về nhà trọ tại xã L, huyện C, tỉnh Long An. Lời khai của Hồ A phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám xe, biên bản thực nghiệm điều tra, các kết luận giám định pháp y, kết luận giám định dấu vết va chạm, xác minh biển báo, lời khai của người tố giác và người có quyền nghĩa vụ liên quan và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Tiến hành xác minh tại Trạm Y tế xã L, huyện C và Trạm Y tế xã L, huyện C, tỉnh Long An; Trạm Y tế xã H và Trạm Y tế xã T, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh không ghi nhận Lê Long Hồ A đến sơ cấp cứu nên không xác định được nồng độ cồn của Hồ A.

Cáo trạng số 26/CT-VKSBC ngày 23/12/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh đã truy tố bị cáo Lê Long Hồ A về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa:

- Bị cáo Lê Long Hồ A trình bày: toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh đã truy tố. Bị cáo thành khẩn khai báo và có thái độ ăn năn hối cải. Bị cáo không tranh luận và lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bị cáo đồng ý bồi thường 585.000.000 đồng cho người đại diện bị hại; bồi thường tiền khám bệnh, nằm viện, điều trị bệnh, tiền giám định thương tật của em H là 68.500.000 đồng.

- Ông Mai Quốc B là người đại diện theo ủy quyền của ông Thạch Q, bà Lâm Thị H, em Mai Thạch Tuyết H trình bày: Yêu cầu bị cáo Lê Long Hồ A bồi thường 585.000.000 đồng cho người đại diện bị hại; bồi thường tiền khám bệnh, nằm viện, điều trị bệnh, tiền giám định thương tật của em H là 68.500.000 đồng

- Em Mai Thạch Tuyết H và bà Lâm Thị H trình bày: Thống nhất với ý kiến của ông B nêu trên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh phát biểu vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Lê Long Hồ A về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”,

+ Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 2 Điều 260 và điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo từ 05 năm đến 06 năm tù. Tổng hợp hình phạt của hai Bản án buộc bị cáo chấp hành hình phạt 14 năm đến 15 năm tù theo quy định.

+ Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo tại phiên tòa đồng ý bồi thường 585.000.000 đồng cho người đại diện bị hại; bồi thường tiền khám bệnh, nằm viện, điều trị bệnh, tiền giám định thương tật của em H là 68.500.000 đồng.

+ Về vật chứng: Đề nghị ghi nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho người đại diện hợp pháp của bị hại 01 xe mô tô hiệu Honda, loại SH Mode, biển số 62M1-813.91; Tiến hành đăng tin tìm chủ sỡ hữu và xử lý đối với 01 xe mô tô hiệu Yamaha, loại Mio, biển số 62N1-005.60, màu đỏ, số khung: RLCM5WP204Y010845, số máy: 5WP210845.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Bình Chánh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, đương sự không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tuy nhiên biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám xét (các bút lục số 175 đến 176 và từ 183 đến 186, ngoài các tài liệu này thì còn có tài liệu chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo là sơ đồ hiện trường vụ án) đã vi phạm thủ tục tố tụng khi tiến hành không có sự tham gia của Kiểm sát viên và Điều tra viên là vi phạm quy định tại điểm d khoản 1 Điều 42 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015, với vi phạm này thì không thể khắc phục nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án mà không trả hồ sơ hay yêu cầu khắc phục. Tuy nhiên, cần kiến nghị cơ quan có thẩm quyền tiến hành rút kinh nghiệm trong quá trình tiến hành tố tụng để tránh sai sót tương tự đối với những vụ án khác.

Về nội dung: Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ thu thập được và kết quả tranh luận tại phiên tòa, có đủ căn cứ kết luận hành vi phạm tội cụ thể của bị cáo như sau:

Vào lúc 19 giờ 30 phút ngày 11/12/2022, tại trước địa chỉ D14/23 Ấp 4, xã T, huyện Bình Chánh, bị cáo Lê Long Hồ A không có giấy phép lái xe nhưng vẫn điều khiển xe mô tô hiệu Yamaha (loại Mio, biển số 62N1-005.60, dung tích xi lanh 113cm3) thiếu chú ý quan sát để xe lấn trái sang phần đường chiều ngược lại, đụng vào phần đầu bên trái xe mô tô biển số 62M1-813.91 do bà Thạch Thị Tuyết N điều khiển chở theo phía sau Mai Thạch Tuyết H (con ruột bà N) đang lưu thông theo hướng ngược lại làm cả 02 xe mô tô và 03 người ngã xuống, bà N tử vong tại Bệnh viện Nguyễn Tri Phương, em Hân bị thương tích tỷ lệ 56%.

Hành vi của bị cáo Lê Long Hồ A như trên đã vi phạm quy định tại khoản 9 (Điều khiển xe cơ giới không có giấy phép lái xe theo quy định) và khoản 23 (Điều khiển xe cơ giới không có giấy phép lái xe theo quy định) của Điều 8 và khoản 1 Điều 9 Luật giao thông đường bộ nên đã phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Đối với lời khai của bị cáo có sử dụng bia trước khi điều khiển xe gây tai nạn. Tuy nhiên, do bị cáo không có kiểm tra nồng độ cồn; kết quả xác minh tại Trạm Y tế xã L, huyện C; Trạm Y tế xã Long Thượng, huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An; Trạm Y tế xã H và Trạm Y tế xã T, huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh không ghi nhận Lê Long Hồ A đến sơ cấp cứu nên không xác định được nồng độ cồn của Hồ A nên không có căn cứ để xử lý bị cáo tình tiết này.

Như vậy, có đủ căn cứ để kết luận bị cáo Lê Long Hồ A đã phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) để giảm một phần hình phạt mà lẽ ra bị cáo phải chịu.

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nhưng có nhân thân trước khi xảy ra vụ án này bị cáo trốn truy nã. Ngày 30/9/2024, Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương xử phạt 07 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích” và 02 năm tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo Bản án số 254/2024/HS-ST nên Hội đồng xét xử sẽ xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.

Ngoài ra, Bản án số 254/2024/HS-ST đã có hiệu lực pháp luật nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) để tổng hợp hình phạt chung của nhiều Bản án buộc bị cáo phải chấp hành theo quy định.

Về trách nhiệm dân sự: Ông Mai Quốc B là đại diện ủy quyền của ông Thạch Q, bà Lâm Thị H, em Mai Thạch Tuyết H yêu cầu Lê Long Hồ A bồi thường 585.000.000 đồng cho người đại diện bị hại; bồi thường tiền khám bệnh, nằm viện, điều trị bệnh, tiền giám định thương tật của em H là 68.500.000 đồng. Tại phiên tòa, bị cáo đồng ý bồi thường số tiền này cho nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

Về xử lý vật chứng:

- 01 xe mô tô hiệu Honda, loại SH Mode, biển số 62M1-813.91, bạc đen, số khung: RLHJK0115LZ618064, số máy: JK01E0033285. Qua xác minh, do Thạch Thị Tuyết N đứng tên chủ sở hữu. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại xe trên cho người người đại diện hợp pháp của bị hại nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- 01 xe mô tô hiệu Yamaha, loại Mio, biển số 62N1-005.60, màu đỏ, số khung: RLCM5WP204Y010845, số máy: 5WP210845. Qua xác minh, do Đinh Hoàng V đứng tên giấy đăng ký xe. Qua làm việc, ông Vũ cho biết đã bán xe trên cho một người (không rõ lai lịch) với giá 5.000.000 đồng vào năm 2019, không làm thủ tục sang tên và không yêu cầu gì đối với xe trên. Lê Long Hồ A khai nhận mua xe trên vào năm 2022 với giá 5.500.000 đồng tại một cửa hàng bán xe máy cũ ở tỉnh Long An. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Chánh đã đăng báo tìm chủ sở hữu nhưng chưa có người liên hệ. Xét thấy, cần trả lại cho bị cáo nhưng cần giữ lại để đảm bảo việc thi hành án của bị cáo.

Về án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 260; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 56 Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Xử phạt bị cáo Lê Long Hồ A: 05 (năm) năm tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Tổng hợp với hình phạt 09 năm tù tại Bản án số 254/2024/HS-ST ngày 30/9/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương đã xét xử bị cáo về các tội “Cố ý gây thương tích” và tội “Gây rối trật tự công cộng”.

Buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung của của 02 Bản án là 14 (mười bốn) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 20/3/2024.

2. Căn cứ Điều 46, Điều 48 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Căn Cứ Điều 591, Điều 600, Điều 601 Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06-9-2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Dân sự về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng;

Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo tại phiên tòa, buộc bị cáo có trách nhiệm bồi thường cho ông Thạch Q, bà Lâm Thị H, ông Mai Quốc B, em Mai Thạch Tuyết H số tiền 585.000.000 (Năm trăm tám mươi lăm triệu) đồng; bồi thường cho em Mai Thạch Tuyết H số tiền 68.500.000 (sáu mươi tám triệu năm trăm nghìn) đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án nếu người phải thi hành án chưa thi hành số tiền nêu trên, thì người phải thi hành án, còn phải chịu thêm khoản tiền lãi chậm trả theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian và số tiền chậm trả

3. Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;

Trả lại cho bị cáo 01 xe mô tô hiệu Yamaha, loại Mio, biển số 62N1-005.60, màu đỏ, số khung: RLCM5WP204Y010845, số máy: 5WP210845 thu giữ của bị cáo nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo việc thi hành án của bị cáo trong vụ án.

(Các vật chứng trên đang giữ tại Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh theo Biên bản giao nhận tang tài vật số 2025/71 ngày 25/12/2024 giữa Công an huyện Bình Chánh và Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh).

4. Căn cứ Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Bị cáo Lê Long Hồ A phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng và án phí dân sự sơ thẩm là 30.825.000 (ba mươi triệu tám trăm hai mươi lăm nghìn) đồng.

5. Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Bị cáo, người đại diện bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tòa tuyên án. Người đại diện bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 6a, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ