vanban.org

Bản án 35/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị Nguyễn Thị L. Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị L đối với anh Trần Văn H. Về quan hệ con chung, cấp dưỡng: Công nhận cháu Trần Văn L1, sinh ngày 28/10/2012 là con chung của chị Nguyễn Thị L và anh Trần Văn H; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chi L ly hôn với anh H"
  • Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 177 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 10-AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 35/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 14-8-2025
V/v “Tranh chấp về ly hôn, nuôi con”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10-AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hà Thị Mỹ Linh;

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Nhựt Thảo;

2. Bà Nguyễn Thị Ngọc Thơ.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Hiếu - Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10-An Giang tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Tố Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 8 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 10-An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 114/2025/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 4 năm 2025 về việc: "Tranh chấp về ly hôn, nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 13/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 7 năm 2025, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1990 (có đơn xin vắng mặt);

Cư trú: Ấp Bình Lộc, xã Vĩnh Lộc A, huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu.

Nay là ấp Bình Lộc, xã Vĩnh Lộc, tỉnh Bạc Liêu.

Số CCCD: xxxxxxxxxxxx cấp ngày 08/9/2022

Điện thoại: xxxx.xxx.xxx

2. Bị đơn: Anh Trần Văn H, sinh năm 1991 (vắng mặt);

Cư trú: Ấp Vĩnh Qưới, xã Vĩnh An, huyện Châu Thành, An Giang.

Nay là ấp Vĩnh Qưới, xã Vĩnh An, An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị L trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Thông qua người mai mối nên chị và anh Trần Văn H chung sống với nhau, có tổ chức đám cưới và đăng kết hôn vào ngày 10/7/2012 tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện H, tỉnh Bạc Liêu (cũ). Sau khi kết hôn vợ chồng lên Bình Dương làm công nhân, cuộc sống ban đầu rất hạnh phúc, tháng 10 năm 2012, chị sinh được một bé trai. Lúc này vợ chồng chung sống với ba mẹ chồng. Đến tháng 4 năm 2013 thì vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do điều kiện đi làm không thuận lợi, nên chị cùng anh H dọn ra ngoài ở trọ riêng, khi đó mẹ chồng không đồng ý, sau đó vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cự cãi. Mỗi khi nhậu về, anh H kiếm chuyện đánh đập chị. Vợ chồng ly thân từ đó đến nay. Trong thời gian ly thân, anh H không tới lui năn nỉ hay thăm nom con, không chu cấp tiền để lo cho con. Chị đã trở lại Bạc Liêu để làm ăn sinh sống từ ngày 30/4/2024 đến nay. Do tình cảm vợ chồng không còn, nên yêu cầu Tòa án xem xét cho chị được ly hôn với anh Trần Văn H.

- Về con chung: Có 01 con chung tên Trần Văn L1, sinh ngày 28/10/2012. Hiện cháu L1 do chị trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng. Sau khi ly hôn, chị yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung, không yêu cầu anh H cấp dưỡng.

- Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Do bận đi làm ăn ở xa nên không thể đến Tòa án được, chị xin được vắng mặt suốt quá trình Tòa án tiến hành tố tụng.

* Đối với bị đơn anh Trần Văn H: Tòa án đã nhiều lần tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, nhưng anh H đều vắng mặt không lý do và cũng không gửi văn bản nêu ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của chị L.

Tại phiên tòa:

- Nguyên đơn chị L: Có đơn xin vắng mặt;

- Bị đơn anh H: Vắng mặt không có lý do.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10-An Giang phát biểu ý kiến:

Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án, Thư ký Tòa án, Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử, các đương sự cũng đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật về tố tụng.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị L, giải quyết cho chị L được ly hôn với anh Trần Văn H; về con chung: giao cháu Trần Văn L1 cho chị L tiếp tục nuôi dưỡng, anh H không phải cấp dưỡng nuôi con, do chị L không yêu cầu. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu nên không đặt ra xem xét. Về án phí sơ thẩm: Chị L phải chịu án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng: Chị Nguyễn Thị L và anh Trần Văn H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào ngày 10 tháng 7 năm 2012 tại Ủy ban nhân dân thị trấn xã V, huyện H (cũ) nên được pháp luật công nhận là vợ chồng theo quy định tại Điều 8 và Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình. Nay vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nên chị L yêu cầu ly hôn với anh H. Anh H đăng ký thường trú tại xã V, tỉnh An Giang. Căn cứ theo quy định khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 10- An Giang.

Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn chị L có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn anh Trần Văn H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai những vẫn vắng mặt không lý do. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân:

Chị Nguyễn Thị L xác nhận cuộc sống hôn nhân thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc được khoảng 02 năm, đến năm 2013 thì phát sinh mâu thuẫn trầm trọng, cuộc sống chung không phù hợp nên chị L yêu cầu được ly hôn với anh H.

Xét thấy, cuộc sống hôn nhân là nhằm xây dựng một gia đình thật sự hạnh phúc, vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chăm sóc và quan tâm lẫn nhau nhưng quan hệ vợ chồng giữa chị L và anh H đã xảy ra nhiều mâu thuẫn, tình cảm vợ chồng không còn tồn tại. Tòa án đã tống đạt hợp lệ nhiều lần các văn bản tố tụng đến gia đình nhằm tạo điều kiện hòa giải đoàn tụ và hàn gắn tình cảm vợ chồng giữa hai người, nhưng bị đơn anh H đều không đến. Tòa án tiến hành lấy lời khai của anh H theo quy định, nhưng không lấy được lời khai do anh H không có mặt tại nhà. Quá trình giải quyết vụ án, anh H không có văn bản thể hiện ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện ly hôn và nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng mà phía chị L đã trình bày, cũng như không thể hiện nguyện vọng là muốn duy trì quan hệ hôn nhân với chị L.

Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử đủ cơ sở xác định tình trạng hôn nhân giữa chị L và anh H đã lâm vào tình trạng mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân giữa hai người không đạt được. Căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân gia đình nên chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị L là được ly hôn với anh Trần Văn H.

Về quan hệ con chung, cấp dưỡng: Chị L thừa nhận giữa chị và anh H có 01 con chung tên Trần Văn L1, sinh ngày 28/10/2012. Mặt khác, giấy khai sinh của cháu cũng đã thể hiện rõ điều này, do đó cần công nhận cháu L1 là con chung của anh chị. Hiện cháu L1 đang sống với mẹ. Khi ly hôn, chị L yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành. Hội đồng xét xử nhận thấy, từ khi ly thân, cháu L1 đã sống với mẹ. Hơn nữa, tại bản tự khai của cháu L1 thể hiện nguyện vọng là muốn tiếp tục được sống với mẹ, nếu ba mẹ ly hôn. Do đó, để ổn định tâm lý và đảm bảo phát triển cuộc sống của cháu, cần chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị L là giao cháu L1 cho chị L được tiếp tục nuôi dưỡng.

Về tiền cấp dưỡng nuôi con chung: Chị L không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, đây là sự tự nguyện và phù hợp pháp luật nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, tuy nhiên khi điều kiện kinh tế và điều kiện nuôi con có thay đổi thì các bên có quyền yêu cầu thay đổi người nuôi con, cấp dưỡng trong một vụ kiện khác.

Anh Trần Văn H có quyền tới lui, thăm nom chăm sóc, giáo dục con chung theo quy định pháp luật.

Về quan hệ tài sản, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về án phí sơ thẩm: Do chị Nguyễn Thị L có yêu cầu ly hôn với anh Trần Văn H nên phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Điều 9, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82 và Điều 83, Điều 84 của Luật Hôn nhân gia đình 2014;

- Khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 177, khoản 2 Điều 227, 228, Điều 271, Điều 273, 278, 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;

- Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

- Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị Nguyễn Thị L. Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị L đối với anh Trần Văn H.

2. Về quan hệ con chung, cấp dưỡng: Công nhận cháu Trần Văn L1, sinh ngày 28/10/2012 là con chung của chị Nguyễn Thị L và anh Trần Văn H;

+ Tiếp tục giao cháu Trần Văn L1 cho chị Nguyễn Thị L được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục đến tuổi trưởng thành; anh Trần Văn H không phải cấp dưỡng nuôi con do chị L không yêu cầu;

+ Chị Nguyễn Thị L cùng các thành viên trong gia đình (nếu có) không được cản trở anh H trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung.

+ Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.

3. Về quan hệ tài sản, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về án phí sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị L phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân sơ thẩm, đã nộp tạm ứng án phí 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0008202 ngày 09/4/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, An Giang (nay là Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 10 - An Giang), được khấu trừ nên chị L đã nộp xong.

5. Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị L và anh Trần Văn H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết công khai hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ