- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn giữa chị C và anh M"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị C, cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị C và anh Võ Văn M.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỒNG NGỰ TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 35/2025/HNGĐ-ST Ngày: 04-3-2025 V/v ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỒNG NGỰ, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Lương Bằng.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Bùi Tấn Dũng.
2. Bà Ngô Thị Lệ Nga.
- Thư ký phiên tòa: Ông Dương Thành Tâm - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên toà: Ông Trần Thái Hưng - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 255/2024/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 12 năm 2024, về ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2025/QĐXX-ST ngày 22 tháng 01 năm 2025 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị C, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1975; Nơi cư trú: Khóm T1, thị trấn TTT, huyện HN, tỉnh Đồng Tháp. Có mặt
2. Bị đơn: Anh Võ Văn M, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1974; Nơi cư trú: Khóm T1, thị trấn TTT, huyện HN, tỉnh Đồng Tháp. Vắng mặt lần thứ hai
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 26 tháng 8 năm 2024 của nguyên đơn chị Nguyễn Thị C trình bày: Chị và anh Võ Văn M cưới nhau năm 1995, trước khi cưới cả hai có tìm hiểu nhau khoảng hơn 02 năm rồi mới tiến tới hôn nhân. Cả hai có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã TTT (nay thị trấn TTT), huyện HN, tỉnh Đồng Tháp. Sau khi cưới thì ở chung với cha mẹ chồng, nhưng được khoảng 01 tháng thì cả hai ra ở riêng do nhà chồng đông người. Thời gian đầu vợ chồng chung sống với nhau hạnh phúc, nhưng do kinh tế khó khăn nên vợ chồng đi làm thuê có lúc làm ở Long An, Vũng Tàu, Bình Dương. Cách đây khoảng hơn 02 năm thì hai vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do anh M thường xuyên chơi bời, cặp bồ, chị nói thì anh M đánh chị nhiều lần, ngoài ra anh M thường hay nhậu nhẹt. Cả hai đã không còn sống chung hơn 01 năm nay. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, không hàn gắn được nữa, nên chị yêu cầu được ly hôn với anh Võ Văn M. Về nuôi con chung: Chị và anh Võ Văn M chung sống với nhau có được 02 con chung là Võ Văn P, sinh ngày 12 tháng 8 năm 1996 và Võ Thị Kim N, sinh ngày 26 tháng 01 năm 2001 đã trưởng thành, tự lao động sinh sống được, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với anh Võ Văn M đã được Toà án triệu tập để hòa giải và xét xử theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự nhưng anh từ chối không đến Tòa án tham gia phiên hòa giải và xét xử.
Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hồng Ngự phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử: Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn chị Nguyễn Thị C được ly hôn với bị đơn anh Võ Văn M; về nuôi con chung: Võ Văn P, sinh ngày 12 tháng 8 năm 1996 và Võ Thị Kim N, sinh ngày 26 tháng 01 năm 2001 đã trưởng thành, tự lao động sinh sống được, nên Viện kiểm sát không đề cập giải quyết; về tài sản chung và nợ chung: Chị Nguyễn Thị C trình bày không có, còn anh Võ Văn M không có văn bản ghi ý kiến, nên Viện kiểm sát không đề cập giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Đây là vụ kiện tranh chấp về ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 53 Luật Hôn nhân và Gia đình.
Bị đơn anh Võ Văn M đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt, căn cứ khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn.
Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị C và anh Võ Văn M là hôn nhân hợp pháp, có đăng ký kết hôn và hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình. Xét yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị C đối với anh Võ Văn M, Hội đồng xét xử xét thấy: Theo trình bày của chị Nguyễn Thị C thì cuộc sống của chị và anh Võ Văn M không còn hạnh phúc đã hơn 02 năm nay do anh M thường xuyên chơi bời, cặp bồ, chị nói thì anh M đánh chị nhiều lần, ngoài ra anh M thường hay nhậu nhẹt và cả hai đã không còn sống chung hơn 01 năm nay. Từ đó, có thể nhận thấy rằng mối quan hệ vợ chồng của chị C và anh M hoàn toàn không còn, hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Như vậy, xét thấy yêu cầu ly hôn của chị C là có căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình: “Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được” và cũng phù hợp với đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát, nên chấp nhận cho chị Nguyễn Thị C ly hôn với anh Võ Văn M.
Về việc nuôi con chung: Chị Nguyễn Thị C và anh Võ Văn M chung sống với nhau có được 02 con chung là Võ Văn P, sinh ngày 12 tháng 8 năm 1996 và Võ Thị Kim N, sinh ngày 26 tháng 01 năm 2001, hiện nay 02 cháu đã trưởng thành và tự lao động sinh sống được, nên Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét và cũng phù hợp với đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị Nguyễn Thị C cho rằng không có, nên không yêu cầu giải quyết, còn anh Võ Văn M không gửi văn bản ghi ý kiến của mình để Tòa án xem xét, nên Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét và cũng phù hợp với đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát.
Về án phí sơ thẩm: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án để buộc đương sự phải chịu tiền án phí sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 4 Điều 147, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 53, khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị C, cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị C và anh Võ Văn M.
2. Về án phí sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị C chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí mà chị đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0006244 ngày 05 tháng 12 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hồng Ngự.
3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - TAND tỉnh Đồng Tháp; - VKSND huyện Hồng Ngự; - UBND TT.TTT, H.HN; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Lương Bằng |