- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Tranh chấp về hợp đồng vay tài sản"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty cổ phần S.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 – LÂM ĐỒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 35/2025/DS-ST Ngày : 26/8/2025 V/v tranh chấp về hợp đồng vay tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 – LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Võ Văn.
Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Đặng Văn Minh;
2/ Bà Cao Thị Kim Yến.
- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Văn Đạc - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 12 – Lâm Đồng.
Ngày 26 tháng 8 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 12 – Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 282/2025/TLST-DS ngày 11 tháng 6 năm 2025 về việc:“Tranh chấp về hợp đồng cầm cố tài sản”; Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 18/2025/QĐST-DS ngày 29 tháng 7 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 19/2025/QĐST-DS ngày 08 tháng 8 năm 2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Công ty cổ phần S; Địa chỉ: Số 128 Nguyễn Du, phường BThủy, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An. Nay là: Phường TVinh, tỉnh Nghệ An.
Người đại diện theo pháp luật của Công ty cổ phần S: Ông KANOKWATPAISAL NP – Giám đốc Công ty cổ phần S.
Người đại diện theo ủy quyền của ông KANOKWATPAISAL NP: Ông Trần Thanh Ph – Sinh năm 1982. Theo Giấy ủy quyền số 29/2025/UQ-SVN ngày 28/03/2025 (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
Bị đơn: Bà Nguyễn Thị P – Sinh năm 1977 (vắng mặt, không có lý do)
Địa chỉ: Thôn 4, xã HĐức, huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận. Nay là: Xã HThuận, tỉnh Lâm Đồng.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 15/4/2025, bản khai và lời khai của nguyên đơn Công ty cổ phần S do ông Trần Thanh Ph đại diện theo ủy quyền khai:
Công ty TNHH SRISAWAD Việt Nam – Chi nhánh Phan Thiết 2 (Công ty TNHH SRISAWAD Việt Nam đã chuyển đổi loại hình doanh nghiệp thành Công ty cổ phần S vào ngày 11/10/2023) và bà Nguyễn Thị P có ký Hợp đồng cầm cố số PNM201101021NA12X ngày 13/11/2020 để cầm cố tài sản là: Xe máy nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS biển số 86B2 – 09693, Giấy chứng nhận đăng ký mô tô xe gắn máy số 062458 do Công an huyện Hàm Thuận Bắc cấp ngày 08/10/2020, số tiền cầm cố là 6.600.000đồng, thời hạn cầm cố 12 tháng kể từ ngày 13/11/2020 đến ngày 13/11/2021, lãi suất cầm cố là 1,1%/tháng tính từ ngày ký hợp đồng và nhận tiền. Theo Hợp đồng cầm cố và Phiếu chi ngày 13/11/2020 thì Công ty đã giải ngân đầy đủ số tiền trên cho bà Phượng.
Do nhu cầu cần xe đi lại hàng ngày nên Công ty TNHH SRISAWAD Việt Nam – Chi nhánh Phan Thiết 2 và bà Nguyễn Thị P có ký Giấy mượn xe ngày 13/11/2020, thời hạn mượn là 30 ngày kể từ ngày 13/11/2020 đến ngày 13/12/2020.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng, bà Phượng đã không đúng cam kết về việc thanh toán tiền đúng hạn cho Công ty. Công ty cổ phần S đã nhiều lần đôn đốc, nhắc nhở nhưng đến nay bà Nguyễn Thị P vẫn không có thiện chí thanh toán cho Công ty các khoản nợ vay trên.
Nay, Công ty cổ phần S yêu cầu bà Nguyễn Thị P phải trả tổng số tiền tính đến ngày 21/7/2025 là 12.244.873đồng. Trong đó, tiền nợ gốc 6.187.558đồng, tiền lãi trong hạn 442.079đồng; tiền lãi quá hạn 5.615.236đồng. Và tiền lãi phát sinh từ ngày 22/7/2025 cho đến khi bà Nguyễn Thị P hoàn thành nghĩa vụ trả nợ.
Bị đơn bà Nguyễn Thị P đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án nhưng vắng mặt không có lý do nên Tòa án không thể tiến hành các thủ tụng tố tụng như ghi lời khai, lập biên bản về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ tranh chấp, thẩm quyền:
Theo Công văn số 127/ĐKKD ngày 23/5/2024 của Phòng đăng ký kinh doanh – Sở kế hoạch và đầu tư tỉnh Nghệ An V/v xác nhận việc chuyển đổi loại hình của doanh nghiệp với nội dung xác nhận là “Công ty TNHH SRISAWAD Việt Nam, mã số doanh nghiệp 2901807716, đã chuyển đổi loại hình doanh nghiệp thành Công ty cổ phần S, thời điểm thực hiện 11/10/2023”. Do đó, Hội đồng xét xử xác định Công ty cổ phần S có quyền khởi kiện yêu cầu bà Nguyễn Thị P phải trả số tiền nợ gốc, lãi theo Hợp đồng cầm cố số PNM201101021NA12X ngày 13/11/2020 giữa Công ty TNHH SRISAWAD Việt Nam – Chi nhánh Phan Thiết 2 và bà Nguyễn Thị P.
Nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải trả số tiền nợ gốc, lãi theo Hợp đồng cầm cố, tuy nhiên trong quá trình giải quyết vụ án thấy rằng việc cầm cố tài sản theo hợp đồng với mục đích để bảo đảm cho khoản vay nên xác định đây là tranh chấp hợp đồng vay tài sản. Bị đơn có địa chỉ tại thôn 4, xã Hàm Thuận, tỉnh Lâm Đồng nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 12 - Lâm Đồng được pháp luật quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về thủ tục tố tụng:
Nguyên đơn Công ty cổ phần S do ông Trần Thanh Phương đại diện theo ủy quyền vắng mặt tại phiên tòa, đã có Đơn đề nghị giải quyết, xét xử vắng mặt đề ngày 29/7/2025. Căn cứ khoản 1 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng Dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt nguyên đơn.
Bị đơn bà Nguyễn Thị P đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án theo quy định của pháp luật nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, Khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng Dân sự Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn.
Về nội dung:
Công ty cổ phần S yêu cầu bà Nguyễn Thị P phải trả tổng số tiền tính đến ngày 21/7/2025 là 12.244.873đồng. Trong đó, tiền nợ gốc 6.187.558đồng, tiền lãi trong hạn 442.079đồng; tiền lãi quá hạn 5.615.236đồng. Và tiền lãi phát sinh từ ngày 22/7/2025 cho đến khi bà Nguyễn Thị P hoàn thành nghĩa vụ trả nợ. Hội đồng xét xử xét thấy:
Hợp đồng cầm cố số PNM201101021NA12X ngày 13/11/2020 giữa Công ty TNHH SRISAWAD Việt Nam – Chi nhánh Phan Thiết 2 và bà Nguyễn Thị P, được các bên tự nguyện ký kết, có hình thức và nội dung phù hợp với quy định tại Điều 117 Bộ luật Dân sự nên có giá trị pháp lý và hiệu lực thi hành đối với các bên. Sau khi ký Hợp đồng cầm cố nêu trên thì số tiền cầm cố đã được Công ty giải ngân đúng với thỏa thuận trong Hợp đồng cầm cố theo Phiếu chi ngày 13/11/2020 có chữ ký tên, ghi họ tên Nguyễn Thị P tại phần người nhận tiền.
Nội dung Hợp đồng cầm cố số PNM201101021NA12X ngày 13/11/2020 thể hiện bà Nguyễn Thị P nhận số tiền 6.600.000đồng và cầm cố tài sản là xe máy nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS biển số 86B2 – 09693, Giấy chứng nhận đăng ký mô tô xe gắn máy số 062458 do Công an huyện Hàm Thuận Bắc cấp ngày 08/10/2020 để đảm bảo cho khoản vay. Quá trình thực hiện hợp đồng, bà Nguyễn Thị P đã không thanh toán đầy đủ số tiền đã cam kết theo hợp đồng cho Công ty là đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ. Bà Nguyễn Thị P đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng trong suốt quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa vẫn vắng mặt, cho thấy bà Nguyễn Thị P đã từ bỏ quyền, nghĩa vụ chứng minh của mình.
Do đó, bà Nguyễn Thị P phải có nghĩa vụ trả cho Công ty cổ phần S số tiền gốc và lãi tổng cộng tính đến ngày 21/7/2025 là 12.244.873đồng, gồm: Nợ gốc: 6.187.558đồng; tiền lãi trong hạn: 442.079đồng và tiền lãi quá hạn tính đến ngày 21/7/2025: 5.615.236đồng và nợ lãi phát sinh theo thỏa thuận cho đến khi hoàn thành nghĩa vụ trả nợ theo yêu cầu của Công ty là phù hợp với nội dung thỏa thuận trong hợp đồng, phù hợp Điều 463 và Điều 466 Bộ luật Dân sự nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí: Bà Nguyễn Thị P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng Dân sự; Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Công ty cổ phần S không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả lại cho Công ty cổ phần S số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 và khoản 1 Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 463 và Điều 466 Bộ luật Dân sự; Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty cổ phần S.
Buộc bà Nguyễn Thị P phải thanh toán cho Công ty cổ phần S tổng số tiền nợ gốc và lãi tính đến ngày 21/7/2025 là 12.244.873đồng, gồm: Nợ gốc: 6.187.558đồng; tiền lãi trong hạn: 442.079đồng và tiền lãi quá hạn: 5.615.236đồng.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày 21/7/2025, bà Nguyễn Thị P còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong Hợp đồng cầm cố số PNM201101021NA12X ngày 13/11/2020 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong Hợp đồng cầm cố số PNM201101021NA12X ngày 13/11/2020, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán theo Bản án của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất trong Hợp đồng cầm cố.
2. Về án phí:
Công ty cổ phần S không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả lại cho Công ty cổ phần S số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003438 ngày 11/6/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận.
Bà Trần Thị Phượng phải chịu 612.000đồng án phí dân sự sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai tại địa phương.
4. Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lâm Đồng; - VKSND khu vực 12 – Lâm Đồng; - Thi hành án dân sự tỉnh Lâm Đồng (Phòng THADS khu vực 12 – Lâm Đồng); - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. HỘI THẨM NHÂN DÂN | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Võ Văn THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Võ Văn |