- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng dịch vụ — án dân sự — "tranh châp hợp đồng mua bán"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Văn T, yêu cầu ông Nguyễn Phước V trả tiền mua xoài lá và tiền lãi tổng cộng là 20.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - ĐỒNG THÁP TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 35/2025/DS-ST. Ngày: 15-9-2025. V/v “Tranh chấp về hợp đồng dân sự mua bán xoài lá”. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - ĐỒNG THÁP
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm, gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đinh Tấn Hiếu.
Các hội thẩm nhân dân:
1/ Bà Bùi Thị Hoàng;
2/ Ông Nguyễn Đình Đoan Hùng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Hà, Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 6 - Đồng Tháp.
Ngày 15 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 6 - Đồng Tháp, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 43/2025/T ST-DS, ngày 14 tháng 7 năm 2025, về việc “Tranh chấp về hợp đồng dân sự mua bán xoài lá” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 88/2025/QĐXXST-DS, ngày 16/8/2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Nguyễn Văn T, sinh năm 1965;
Địa chỉ: Số A, đường NCT, Phường CL, tỉnh Đồng Tháp.
- Bị đơn: Trần V, sinh năm 1979;
Địa chỉ: Số A, Tổ B, khóm H, phường C , tỉnh Đồng Tháp).
Ông Nguyễn Văn T có mặt, ông Trần Phước V vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Trong quá trình thu thập chứng cứ và tại phiên tòa, nguyên đơn Nguyễn Văn T trình bày:
Năm 2021, ông T có hợp đồng mua bán xoài lá với ông V, theo hợp đồng thì ông T bán cho ông V xoài lá trên diện tích đất 4.000 m2, tọa lạc phường Cao ãnh, tỉnh Đồng Tháp, thời hạn là 03 năm, kể từ ngày 30/4/2021 đến ngày 30/4/2024, trong thời hạn này ông V được quyền thu hoạch trái xoài trên đất, giá bán là 20.000.000 đồng, thời hạn trả cuối cùng là ngày 30/4/2024, đến ngày 30/4/2024, thì ông T cho ông V được tiếp tục thu hoạch xoài trái thêm 01 năm, đến ngày 30/4/2025. Sau đó, ông V đã thu hoạch hái xoài trái trên đất nêu trên của ông T, từ năm 2021 đến ngày 30/4/2025, nhưng ông Văn chỉ trả cho ông T số tiền mua xoài lá 3.000.000 đồng, còn lại 17.000.000 đồng.
Nay ông T yêu cầu ông V trả tiền mua xoài lá là 17.000.000 đồng và tiền lãi tính từ ngày 30/4/2024 đến ngày 30/4/2025, với mức lãi suất 1,6%/tháng, thành tiền là 3.264.000 đồng, tổng cộng vốn và lãi là 20.264.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
- Theo đơn khởi kiện, nguyên đơn tranh chấp hợp đồng dân sự mua bán xoài lá với bị đơn Trần Phước V, địa chỉ: địa chỉ: Số 476, Tổ 6, khóm Hòa Hưng, phường Cao ãnh, tỉnh Đồng Tháp. Căn cứ vào khoản 3, Điều 26; điểm a, khoản 1, Điều 35; Điều 36 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền thụ lý, giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 6 – Đồng Tháp.
- Tòa án đã triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai, nhưng bị đơn Trần Phước V vắng mặt. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử.
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Trong quá trình thu thập chứng cứ, nguyên đơn Nguyễn Văn T có xuất trình cho Tòa án “Giấy hợp đồng mua bán xoài lá”, ghi ngày 30/8/2023.
Theo giấy hợp đồng mua bán xoài lá ngày 30/8/2023, thể hiện nội dung, ông Văn còn thiếu ông T 17.000.000 đồng, hẹn đến ngày 30/4/2024 sẽ trả đủ 01 lần. Trong quá trình thu thập chứng cứ, ông V không có văn bản ý kiến trả lời. Do đó, đủ cơ sở xác định ông V còn nợ ông T số tiền mua xoài lá 17.000.000 đồng.
- Xét tiền lãi: Theo giấy hợp đồng mua bán xoài lá nêu trên, ông V hẹn trả cho ông T tiền mua xoài 17.000.000 đồng vào ngày 30/4/2024, nhưng đến nay vẫn chưa trả. Do đó, ông T yêu cầu ông V trả tiền lãi tính từ ngày 30/4/2024 đến ngày 30/4/2025, với mức lãi suất 1,6% là phù hợp với quy định tại Điều 468 Bộ luật sân sự năm 2015.
Từ những phân tích trên, yêu cầu của ông T là có căn cứ chấp nhận, buộc ông Văn trả cho ông T số tiền mua xoài lá và tiền lãi tổng cộng là 20.264.000 đồng.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông V phải trả cho ông T số tiền 20.264.000 đồng nên phải chịu án phí là 1.013.000 đồng, theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ: Các điều 430, 431, 440 của Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
2. Chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Văn T, yêu cầu ông Nguyễn Phước V trả tiền mua xoài lá và tiền lãi tổng cộng là 20.264.000 đồng.
3. Buộc ông Nguyễn Phước V trả cho ông Nguyễn Văn T số tiền mua xoài lá và tiền lãi tổng cộng là 20.264.000 đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Trần Phước V phải chịu án phí là 1.013.000 đồng.
5. Nguyên đơn (có mặt) có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; bị đơn (vắng mặt tại phiên tòa) có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được tống đạt bản án.
Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 uật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 uật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 uật Thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - VKSND KV 6; - TAND tỉnh ĐT; - Các đương sự. - ưu. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đinh Tấn Hiếu |