vanban.org

Bản án 35/2024/HSST — Hình sự

TAND Q. Hoàn Kiếm, TP. Hà Nội Tuyên án 29/02/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Mai Thành K phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.

Xử phạt: Mai Thành K 18 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Tổng hợp hình phạt của bản án số 75/2923/HS-ST ngày 19/12/2023 của Tòa án nhân dân huyện N, Thành phố H bị cáo phải chấp hành là 60 (sáu mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 20/06/2023. Vật chứng: không Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Mai Thành K - Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản - phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (điều 175 Luật sửa đổi, bổ sung một số…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Mai Thành K phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 140 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 175 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN HOÀN KIẾM
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 35/2024/HSST
Ngày29 tháng 2 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Lệ Hằng

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đào P Mai

Ông Trần Ngọc Thịnh

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Gấm – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm, Thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm tham gia phiên toà:

Bà Nguyễn Diệu Thùy - Kiểm sát viên

Trong ngày 29 tháng 2 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 287/2023/ TLST - HS ngày 27 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 287/2024/QĐXXST – HS ngày 25 tháng 1 năm 2024 đối với:

Mai Thành K, sinh năm: 1993; Giới tính: Nam; ĐKHKTT: xã N, huyện A, thành phố H; Chỗ ở: không nơi ở cố định; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do - Trình độ văn hoá: 12/12; Con ông: Mai Thành T và bà Nguyễn Thị Hồng G.

Tiền án tiền sự: 02 tiền án

- Ngày 21/10/2016, Tòa án nhân dân quận N, Hà Nội xử phạt 10 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (AS: 259/HSST). Ra trại 15/5/2017 - án tích chưa được xoá.

- Ngày 19/10/2019, Tòa án nhân dân quận G, thành phố H xử phạt 02 năm tù về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (phạm tội ngày 18/4/2019) - AS: 138/HSST. Ra trại ngày: 21/02/2021.

- Ngày 19/12/2023, Tòa án nhân dân huyện N, thành phố H xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (AS: 75/2023/HSST (án đã có hiệu lực pháp luật)

Hiện bị cáo đang tạm giam tại Trại tạm giam C (T30) - Công an thành phố H (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

Bị hại: Anh Phạm Việt C, sinh năm1975;

Nơi ĐKHKTT: 47/35 phố G, phường B, quận H, thành phố Hà Nội. (Có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt lại như sau:

Ngày 02/10/2017, anh Phạm Việt C (SN: 1975, Nơi ĐKHKTT: 47/35 phố G, phường B, quận H, Hà Nội) đến Công an phường L trình báo sự việc như sau: Ngày 09/9/2017, anh C trực cùng ca với Mai Thành K tại Số 1C phố N, phường L, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày anh C đưa xe Honda PCX BKS: 30L9 - 6208 cho anh Lê Đức P (SN: 1998, chỗ ở: 20 phố N, quận B, Hà Nội) để đi mua cơm cho cả tổ nhưng anh P không biết đường nên đưa xe cho Mai Thành K đi mua cơm. Anh C đồng ý giao xe cho K nhưng K điều khiển xe đi mất không liên lạc được. Trong cốp xe của anh C có các tài sản: 01 đăng ký xe Honda PCX BKS: 30L9 - 6208 mang tên Phạm Việt C; 01 Hộ chiếu mang tên Phạm Việt C; 01 sổ lao động ở nước ngoài mang tên Phạm Việt C; 01 thẻ VISA mang tên Phạm Việt C; Bảo hiểm xe máy, bảo hiểm y tế Bảo Việt cùng một số vật dụng cá nhân có giá trị khác.

Tại Kết luận định giá tài sản số 243/KL-HĐĐG ngày 25/11/2017 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận Hoàn Kiếm kết luận: 01 xe máy hiệu HONDA PCX; BKS 30L9 - 6208, số khung: 002466, số máy: 2104349 mua năm 2010 có trị giá 28.000.000 đồng.

Tại Cơ quan điều tra, người bị hại anh Phạm Việt C khai sự việc như trên và khai: Sau khi anh P đưa xe cho Mai Thành K đi mua cơm thì anh P đã thông báo cho anh C biết, anh C đồng ý và cùng ngồi chờ với anh P. Không thấy K quay lại, số điện thoại đã tắt máy nên anh C đến Công an phường L trình báo. Anh C yêu cầu xử lý K theo quy định pháp luật và yêu cầu bồi thường trị giá chiếc xe máy như kết luận định giá và không yêu cầu gì liên quan đến một số giấy tờ tuỳ thân.

Anh Lê Đức P khai: Ngày 09/9/2017, anh P làm cùng ca với anh Phạm Việt C và Mai Thành K. Khoảng 20h cùng ngày anh C đưa xe cho anh P để đi mua cơm nhưng anh P không biết đường nên K đề nghị đi mua cơm cho cả tổ trực. Khoảng một tiếng sau không thấy K quay lại, điện thoại không liên lạc được nên anh C đến Công an phường trình báo. Chiếc xe máy là tài sản của anh C, anh P không biết và không liên quan đến hành vi phạm tội của K. Xét thấy anh P không liên quan đến hành vi phạm tội của K nên Cơ quan điều tra không đề nghị xử lý.

Cơ quan điều tra xác minh nhân thân, xác định Mai Thành K đang bị tạm giam tại Trại tạm giam C T30 - Công an thành phố H. Tại Cơ quan điều tra, Mai Thành K khai: Ngày 09/9/2017, K thấy anh Phạm Việt C giao xe máy cho anh Lê Đức P để đi mua cơm ăn trưa nhưng anh P không biết đường nên K đã nhận việc đi mua cơm. Anh P giao lại xe máy HONDA PCX, BKS: 30L9 - 6208 của anh C cho K. Trên đường đi mua cơm, K nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản nên điều khiển xe đến khu vực chợ xe ở quận C và bán xe cho một người đàn ông không quen biết được 13 triệu đồng. Bán được xe, K tắt máy điện thoại rồi bỏ trốn, số tiền bán xe K đã sử dụng ăn tiêu cá nhân hết. Cơ quan điều tra đã ra Thông báo truy tìm chiéc xe máy trên nhưng chưa có kết quả.

Bản Cáo trạng số 270/CT-VKS ngày 08/11/2023 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm truy tố Mai Thành K về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo điểm a khoản 1 Điều 140 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung 2009 (nay là điểm a khoản 1 Điều 175 BLHS 2015, sửa đổi bố sung 2017)

Ngày 6/2/2024, bị cáo Mai Thành K có đơn xin được xét xử vắng mặt bị cáo do bị cáo đang bị tạm giam tại trại giam C – Công an Thành phố H, bị cáo giữ nguyên các lời khai tại Cơ quan điều tra và không thay đổi gì. Đề nghị Tòa án xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố luận tội: Qua nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án, lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và tại đơn xin xét xử vắng mặt, có đủ cơ sở kết luận bị cáo Mai Thành K phạm tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản như nội dung bản cáo trạng truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng theo điểm a khoản 1 Điều 140 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung 2009 (nay là điểm a khoản 1 Điều 175 BLHS 2015, sửa đổi bố sung 2017) điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 56 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bố sung 2017 xử phạt Mai Thành K từ 18 đến 24 tháng tù về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, tổng hợp hình phạt của bản án số 75/2023/HS-ST ngày 19/12/2023 của Tòa án nhân dân huyện N, thành phố H là 3 năm 06 tháng tù, tổng cộng bị cáo K phải chịu mức án từ 5 năm đến 5 năm 6 tháng tù.

Về dân sự: Buộc bị cáo Mai Thành K phải bồi thường cho bị hại anh Phạm Việt C số tiền 28.000.000 (hai tám triệu) đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Hoàn Kiếm, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi của bị cáo: Khoảng 20 giờ ngày 09/9/2017 tại 1C phố N, phường T, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội, Mai Thành K sau khi được anh Phạm Việt C cho mượn chiếc xe máy Honda PCX BKS: 30L9 - 6208 có trị giá 28.000.000 đồng để đi mua cơm; K đã nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản và mang xe máy của anh C bán cho một người đàn ông không quen biết được 13.000.000 đồng rồi bỏ trốn.

Như vậy có đủ căn cứ xác định hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 140 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung 2009 (nay là điểm a khoản 1 Điều 175 BLHS 2015, sửa đổi bố sung 2017) như lời luận tội của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm là đúng.

Hành vi của bị cáo đã xâm phạm tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Bị cáo và bị hại cùng làm bảo vệ tại tòa nhà số 1C phố Phố N, phường L, quận Hoàn Kiếm, Hà nội. Lợi dụng bị hại đang trong ca trực không đi mua cơm cho cả tổ được nên nhờ anh Lê Đức P đi mua, do anh P không biết đường nên anh C đưa xe cho bị cáo để mua cơm nhưng bị cáo đã điều khiển xe đi mất không liên lạc được. Sau khi nhận xe máy Honda PCX, biển kiểm soát 30L9-6208 của anh C, K đã đi xe đến khu vực quận C và bán xe cho người đàn ông không quen biết với giá 13.000.000 đồng và sử dụng ăn tiêu cá nhân hết.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu của cá nhân nên việc đưa bị cáo ra xét xử là cần thiết và cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo.

Bị cáo có nhân thân xấu, 1 tiền án về tội trộm cắp tài sản, 2 tiền án về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản trong đó có 1 tiền án chưa được xóa. Chứng tỏ bị cáo đã được cơ quan pháp luật giáo dục nhiều lần nhưng không lấy đó làm bài học mà vẫn tiếp tục phạm tội, thể hiện sự coi thường pháp luật của bị cáo nên cần áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc mới đủ tác dụng giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.

Hội đồng xét xử xem xét bị cáo có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự; Bị cáo có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự: thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Với những tình tiết nêu trên, Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện tính nhân đạo của Nhà nước và tính khoan hồng của pháp luật.

Về mức hình phạt: Giá trị tài sản chiếm đoạt của tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là 28.000.000 đồng. Hình phạt tù áp dụng đối với đối với tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản quy định khoản 1 Điều 140 Bộ luật hình sự là từ 3 tháng đến 3 năm. Ngày 19/1/22023, bị cáo đã bị Tòa án nhân dân huyện N, thành phố H xử phạt 3 năm 6 tháng tù về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản nên bị cáo phải chịu tổng hợp 02 bản án theo quy định tại Điều 56 Bộ luật hình sự năm 2015. Hội đồng xét xử cân nhắc mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ khi lượng hình đối với bị cáo.

Biện pháp tư pháp:

- Về dân sự: Buộc bị cáo phải bồi thường cho bị hại số tiền là 28.000.000 (hai tám triệu) đồng.

Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo; Bị hại có quyền kháng cáo bản án theo luật định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Mai Thành K phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.

2. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 140 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung 2009 (nay là điểm a khoản 1 Điều 175 BLHS 2015, sửa đổi bố sung 2017), điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 56 Bộ luật hình sự;

Xử phạt: Mai Thành K 18 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Tổng hợp hình phạt của bản án số 75/2923/HS-ST ngày 19/12/2023 của Tòa án nhân dân huyện N, Thành phố H bị cáo phải chấp hành là 60 (sáu mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 20/06/2023.

3. Vật chứng: không

4. Án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Áp dụng Điều 22 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Bị cáo phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 1.400.000 (một triệu bốn trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án. Bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ