- Tranh chấp gì? án hình sự — "N - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Văn N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật Phí và lệ phí; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÍ LINH TỈNH HẢI DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 35/2024/HS-ST Ngày 10-4-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÍ LINH, TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Vũ Thị Luyến
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Thành và ông Nguyễn Văn Bạn
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Hoàng Sơn - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Loan - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 4 năm 2024, Tòa án nhân dân thành phố Chí Linh xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến, tại điểm cầu trung tâm là trụ sở Toà án nhân dân thành phố Chí Linh và điểm cầu thành phần tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương, đối với vụ án hình sự thụ lý số 28/2024/TLST-HS ngày 20 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 33/2024/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 3 năm 2024, đối với bị cáo:
Lê Đức N, sinh năm 1996 tại thành phố C, tỉnh Hải Dương;
Nơi cư trú: KDC T, phường V, thành phố C, tỉnh Hải Dương.
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch Việt Nam; Con ông Lê Văn Đ và bà Nguyễn Thị T; vợ, con: Không; tiền án, tiền sự: Không.
Bị tạm giữ ngày 19/01/2024, chuyển tạm giam ngày 22/01/2024 đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương; Có mặt.
- Người tham gia tố tụng khác:
Người chứng kiến: Anh Nguyễn Công T, sinh năm 1996. Vắng mặt.
Những người hỗ trợ tổ chức phiên tòa trực tuyến:
1. Ông Nguyễn Văn Sáng – Cán bộ Toà án nhân dân thành phố Chí Linh.
2. Ông Nguyễn Văn Trí – Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh.
3. Ông Vũ Ngọc Huy – Cán bộ trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ ngày 19/01/2024, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên Lê Đức N đi bộ ra cổng làng văn hóa T, khu dân cư T, phường V, thành phố C, tỉnh Hải Dương rồi đi xe khách đến khu vực ngã tư T thuộc khu dân cư T, phường S, thành phố C thì xuống xe đi vào khu vực đường T thuộc khu dân cư T gặp và mua 500.000 đồng tiền ma túy của một người thanh niên không rõ nhân thân lý lịch được 01 gói ma túy, N cầm gói ma túy trong lòng bàn tay phải rồi đi về nhà. Khoảng 10 giờ 40 phút cùng ngày, khi N đi đến trước cửa nhà số 03 ngõ 18 đường T, khu dân cư T, phường S, thành phố C thì bị lực lượng công an phường S phát hiện bắt quả tang. Lực lượng công an tiến hành thu giữ tại lòng bàn tay phải của N 01 túi ni lông màu trắng, kích thước (1x2)cm, bên trong chứa chất tinh thể màu trắng. Lê Đức N khai nhận chất tinh thể màu trắng bên trong túi ni lông là ma túy, N mua về với mục đích sử dụng cho bản thân.
Kết luận giám định số 134 ngày 21/01/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hải Dương kết luận: Chất rắn dạng tinh thể màu trắng trong túi ni lông màu trắng được niêm phong trong phong bì gửi giám định khối lượng 0,111 gam là ma túy, loại Methamphetamine. Hoàn lại sau giám định 0,079 gam ma túy.
Tại bản Cáo trạng số 36/CT-VKSCL ngày 18/3/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương đã truy tố bị cáo Lê Đức N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà:
- Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị HĐXX:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên bố bị cáo Lê Văn N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Lê Văn N từ 12-15 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 19/01/2024.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.
Về xử lý vật chứng: Tịch thu, tiêu huỷ: 0.079gam ma tuý loại Methamphetamine, 01 vỏ túi nilong màu trắng, 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi giám định, đều được niêm phong trong phong bì số 134/KL-KTHS
Về án phí: Buộc bị cáo Lê Đức N phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Bị cáo thừa nhận hành vi vi phạm như nội dung luận tội của Viện kiểm sát và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng đã thu giữ, kết luận giám định, lời khai của người chứng kiến và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Hồi 10 giờ 40 phút ngày 19/01/2024, tại trước cửa nhà số 03 ngõ 18 đường T, khu dân cư T, phường S, thành phố C, tỉnh Hải Dương, Công an phường S, thành phố C phát hiện, bắt quả tang Lê Đức N có hành vi cất giấu trái phép tại lòng bàn tay phải 0,111 gam ma túy, loại Methamphetamine để sử dụng cho bản thân.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Do vậy, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.
Chất ma tuý có tác hại rất lớn đến con người cũng như toàn xã hội. Ma tuý không chỉ là nguyên nhân lây truyền căn bệnh thế kỷ HIV-AIDS mà còn là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác. Bị cáo nhận thức rõ tác hại của ma túy nhưng vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy cần phải xử phạt nghiêm, nhằm răn đe, giáo dục riêng bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo là người mua ma túy về sử dụng không bán lại nhằm mục đích kiếm lời, nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Đối với 0.079gam ma tuý, loại Methamphetamine hoàn lại sau giám định là vật Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu và tiêu huỷ theo quy định tại c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Đối với 01 vỏ túi nilong màu trắng, 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi giám định, đều không có giá trị nên cần tịch thu và tiêu huỷ theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Các vấn đề khác: Đối với người thanh niên bán ma túy cho N, quá trình điều tra không xác định được nhân thân, lý lịch nên Cơ quan CSĐT Công an thành phố Chí Linh không có căn cứ để xử lý.
Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên bố bị cáo Lê Văn N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Lê Văn N 12 (Mười hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 19/01/2024.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.
Về xử lý vật chứng: Tịch thu, tiêu huỷ: 0.079gam ma tuý loại Methamphetamine, 01 vỏ túi nilong màu trắng, 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi giám định, đều được niêm phong trong phong bì số 134/KL-KTHS (Toàn bộ vật chứng trên hiện do Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 19/3/2024 giữa cơ quan điều tra Công an thành phố Chí Linh và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Chí Linh).
Về án phí: Buộc bị cáo Lê Đức N phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND thành phố Chí Linh (01); - VKSND tỉnh Hải Dương (01); - Chi cục THADS TP. Chí Linh (01); - Công an thành phố Chí Linh (01); - Cơ quan hồ sơ nghiệp vụ của Công an nhân dân (Công an thành phố Chí Linh) (01); - CQCSĐT-Công an thành phố Chí Linh (01); - Sở tư pháp tỉnh Hải Dương (01); - Bị cáo (01); - Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương (01); - Lưu hồ sơ (01); - Lưu TA (01). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Vũ Thị Luyến |