- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Quốc C, Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS n…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Quốc C phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy ”;
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH YÊN TỈNH VĨNH PHÚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 35/2024/HS-ST Ngày 20- 3-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Đường
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thế Khải và ông Lê Văn Dũng
Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Huệ - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Yên tham gia phiên tòa: Ông Đào Quang Soạn - Kiểm sát viên
Ngày 20 tháng 3 năm 2024, tại Nhà Văn hóa tổ dân phố An Sơn, phường Đống Đa, thành phố Vĩnh Yên, Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 31/2024/TLST-HS ngày 23 tháng 02 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 31/2024/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 3 năm 2024, đối với bị cáo:
Phạm Quốc C, sinh ngày 25/4/1978, tại Phú Thọ; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Tổ 5 phố Hùng Vương, phường Thọ Sơn, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Đức P và bà Trần Thị N; vợ: Nguyễn Thị Tuyết M; con: 02 con; tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân :
+ Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 264/HSST ngày 18/9/2009 của Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ xử phạt C 24 tháng tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Ngày 04/3/2011, C chấp hành xong án phạt tù, ngày 18/9/2009, C nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
+ Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 50/HSST ngày 27/4/2017 của Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ xử phạt C 24 tháng tù về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”. Ngày 06/10/2018, C chấp hành xong án phạt tù, ngày 27/4/2017, C nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
+ Ngày 24/10/2012, C bị Công an thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 246/QĐ-XPHC về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”; mức xử phạt: 500.000đ;
+ Ngày 15/11/2012, C bị Công an thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 379/QĐ-XPHC về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”; mức xử phạt: 1.000.000đ;
+ Ngày 29/8/2014, C bị Công an thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 74/QĐ-XPHC về hành vi “Tàng trữ chất ma túy trái phép”; mức xử phạt: 1.000.000đ;
+ Ngày 22/5/2015, C bị Công an thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 118/QĐ-XPHC về hành vi “Tàng trữ chất ma túy trái phép”; mức xử phạt: 1.000.000đ;
+ Ngày 18/8/2015, C bị Công an thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 198/QĐ-XPHC về hành vi “Tàng trữ chất ma túy trái phép”; mức xử phạt: 1.500.000đ;
+ Ngày 14/11/2015, C bị Công an huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 13/QĐ-XPHC về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy và Tàng trữ chất ma túy trái phép”; mức xử phạt: 2.250.000đ;
+ Ngày 03/01/2016, C bị Công an thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 305/QĐ-XPHC về hành vi “Tàng trữ chất ma túy trái phép”; mức xử phạt: 1.000.000đ;
+ Ngày 29/3/2016, C bị Công an thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 0000791/QĐ-XPHC về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”; mức xử phạt: 750.000đ;
+ Ngày 02/4/2016, C bị Công an thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 100/QĐ-XPHC về hành vi “Tàng trữ chất ma túy trái phép”; mức xử phạt: 1.000.000đ;
+ Ngày 15/5/2016, C bị Công an thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 73/QĐ-XPHC về hành vi “Tàng trữ chất ma túy trái phép”; mức xử phạt: 1.000.000đ;
+ Ngày 15/9/2016, C bị Công an thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 452/QĐ-XPHC về hành vi “Tàng trữ chất ma túy trái phép”; mức xử phạt: 1.500.000đ;
+ Ngày 22/9/2016, C bị Công an thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 485/QĐ-XPHC về hành vi “Tàng trữ chất ma túy trái phép”; mức xử phạt: 1.000.000đ;
+ Ngày 17/10/2016, C bị Công an thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 514/QĐ-XPHC về hành vi “Tàng trữ chất ma túy trái phép”; mức xử phạt: 1.500.000đ;
Đối với 13 Quyết định xử phạt vi phạm hành chính nêu trên, Phạm Quốc C đều chưa thi hành. Tuy nhiên, Cơ quan ra Quyết định xử phạt không tổ chức đôn đốc và cưỡng chế thi hành Quyết định. Đến nay đều đã hết thời hiệu thi hành;
+ Ngày 13/01/2020, C bị Công an tỉnh Vĩnh Phúc ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 204/QĐ-XPHC về hành vi “Tàng trữ trái phép pháo”; mức xử phạt: 7.500.000đ. Ngày 22/05/2020, C đã thi hành quyết định xử phạt trên.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/10/2023, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Vĩnh Phúc (có mặt).
Người chứng kiến: Anh Nguyễn Văn Thắng, sinh năm 1996; địa chỉ: Tổ dân phố Mới, phường Đống Đa, thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ ngày 30/10/2023, Tổ công tác Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy, Công an thành phố Vĩnh Yên đang làm nhiệm vụ tại khu vực Đồi Cao thuộc phường Ngô Quyền, thành phố Vĩnh Yên phát hiện Phạm Quốc C đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Thu giữ tại lòng bàn tay phải của C 01 gói giấy bạc nhỏ, bên trong có chứa chất cục bột màu trắng (C tự khai nhận đây là gói ma túy của C vừa mua được với giá 250.000đ để sử dụng cho bản thân nhưng chưa kịp sử dụng thì bị bắt). Tổ công tác đã tiến hành niêm phong gói giấy có chứa chất cục bột màu trắng nghi là ma túy vào phong bì thư ký hiệu A1, ngoài ra không thu giữ gì khác. Sau đó, Tổ công tác tiến hành lập biên bản sự việc rồi đưa C cùng những người có liên quan về trụ sở làm việc.
Về nguồn gốc gói ma túy bị thu giữ, quá trình điều tra C khai nhận: Khoảng 09 giờ ngày 30/10/2023, C đang ở nhà của mình tại phường Thọ Sơn, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ thì nảy sinh ý định sử dụng trái phép chất ma túy, nên đã đi xe khách đến thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc tìm mua ma túy sử dụng. Khi đi đến khu vực Đồi Cao thuộc phường Ngô Quyền, thành phố Vĩnh Yên, C gặp và mua được của một nam giới khoảng 40 tuổi không biết họ tên, địa chỉ 01 gói ma túy loại Heroine với giá 250.000đ. Sau khi mua được ma túy, C cầm gói ma túy đó ở lòng bàn tay phải rồi đi bộ tìm nơi để sử dụng thì bị Công an thành phố Vĩnh Yên phát hiện và bắt giữ.
Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Vĩnh Yên đã ra Lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp đối với C đồng thời có Quyết định trưng cầu Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc giám định đối với mẫu ký hiệu A1 thu giữ của Phạm Quốc C.
Tại Kết luận giám định số 2967/KLGĐ-KTHS ngày 03/11/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Vĩnh Phúc, kết luận:
“Chất bột dạng cục màu trắng của mẫu ký hiệu A1 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,1655g (Không phảy một sáu năm năm gam, không kể bao bì) là ma túy loại Heroine (Heroin).
Hoàn trả trực tiếp đối tượng giám định còn lại sau giám định cho cơ quan trưng cầu gồm: A1 = 0,1310 gam mẫu cùng toàn bộ bao gói được niêm phong trong một bao gói giấy “MẪU TRẢ 2813” trên giáp lai có chữ ký của người tham gia đóng gói, niêm phong và hình dấu tròn đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Vĩnh Phúc”
Tại Cáo trạng số 33/CT- VKSNDVY ngày 21/2/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Yên đã truy tố Phạm Quốc C về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).
Tại Cơ quan điều tra và phiên tòa, bị cáo Phạm Quốc C khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung đã nêu trên.
Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Phạm Quốc C phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); xử phạt bị cáo Phạm Quốc C từ 02 năm 03 tháng đến 02 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 30/10/2023), không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017); khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Tịch thu tiêu hủy mẫu vật hoàn lại sau giám định gồm: 0,1310g mẫu của mẫu ký hiệu A1 cùng toàn bộ bao gói được niêm phong trong bao gói “MẪU TRẢ VỤ 2813”
Bị cáo Phạm Quốc C không bào chữa và tranh luận gì, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai nhận tội của bị cáo Phạm Quốc C tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa phù hợp với nhau về thời gian, địa điểm, mục đích, động cơ phạm tội, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu, chứng cứ được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để kết luận:
Khoảng 10 giờ ngày 30/10/2023, Tổ công tác Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy, Công an thành phố Vĩnh Yên đang làm nhiệm vụ tại khu vực Đồi Cao thuộc phường Ngô Quyền, thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc phát hiện Phạm Quốc C đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, thu giữ tại lòng bàn tay phải của C 01 gói giấy bạc nhỏ bên trong có chứa 0,1655g chất cục bột màu trắng, qua giám định xác định là ma túy, loại Heroine. C khai nhận mục đích mua số ma túy trên để sử dụng cho bản thân nhưng chưa kịp sử dụng thì bị phát hiện, bắt giữ.
Hành vi nêu trên của Phạm Quốc C đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Nội dung điều luật quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam…”;
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự trị an và an toàn trong xã hội, ảnh hưởng đến nòi giống, sức khỏe của con người, làm tác hại cho chính bản thân bị cáo và gia đình cũng như cho cộng đồng nói chung. Do vậy, cần phải xử lý thật nghiêm minh mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.
Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Bị cáo C phạm tội theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 có mức cao nhất của khung hình phạt tù đến 5 năm nên theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 9 của Bộ luật Hình sự năm 2015 thì trường hợp nêu trên thuộc tội phạm nghiêm trọng.
Bị cáo C là người có nhân thân xấu, năm 2009 bị cáo bị Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ xử phạt 24 tháng tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; năm 2017 bị cáo bị Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ xét xử 24 tháng tù về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”. Từ năm 2012 đến năm năm 2016, C bị Công an thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ ra quyết định xử phạt hành chính 13 lần về hành vi: “Tàng trữ trái phép chất ma túy và hành vi sử dụng trái phép chất ma túy”. Bị cáo có một lần bị xử phạt hành chính về hành vi: “Tàng trữ pháo”. Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng nào và được áp dụng tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai báo theo điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 để Hội đồng xét xử xem xét khi quyết định hình phạt. Căn cứ hành vi phạm tội của bị cáo cần chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa để buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù một thời gian nhất định mới có tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo trở thành người lương thiện, người công dân có ích cho xã hội.
Đối với người có liên quan trong vụ án: Đối với người nam giới bán ma túy cho C khoảng 40 tuổi, C không biết tên tuổi, địa chỉ. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh tại Công an phường Ngô Quyền, thành phố Vĩnh Yên nhưng chưa xác định được người nam giới này là ai. Ngoài lời khai của C không có chứng cứ, tài liệu nào khác để xác định chính xác người đã bán ma tuý cho C là ai, ở đâu. Do vậy, Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra, khi nào làm rõ xử lý sau.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng. Tuy nhiên, tại phiên tòa xác định bị cáo C không có nghề nghiệp ổn định, không có thu nhập và tài sản nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng: Đối với 0,1310g của mẫu ký hiệu A1 cùng toàn bộ bao gói được niêm phong kín trong một bao gói giấy “Mẫu trả VỤ 2813” là mẫu vật hoàn lại sau giám định, cần tịch thu tiêu hủy;
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Quốc C phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy ”;
2. Về Điều luật áp dụng và hình phạt: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt: Phạm Quốc C 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 30/10/2023).
3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
Tịch thu tiêu hủy: 0,1310g gam ma túy loại Heroine (Heroin) được niêm phong trong bao gói “MẪU TRẢ VỤ 2813” là mẫu vật hoàn lại sau giám định (đặc điểm tang vật như biên bản giao nhận vật chứng ngày 20/3/2024).
4. Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Luật án phí, lệ phí Tòa án; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Phạm Quốc C phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Sở Tư pháp tỉnh Vĩnh Phúc; - VKSND tỉnh Vĩnh Phúc; - VKSND thành phố Vĩnh Yên; - Công an thành phố Vĩnh Yên; - Trại tạm giam - CA Vĩnh Phúc; - Chi cục thi hành án Vĩnh Yên; - Thi hành án hình sự; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ vụ án, văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Đường |