vanban.org

Bản án 35/2024/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh Tuyên án 20/06/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố Nguyễn Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”,

Xử phạt Nguyễn Văn H 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 01/4/2024. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu và tiêu hủy: 0,1115 gam và 0,1323 gam Methamphetamine (đ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn H - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố Nguyễn Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”,
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HÀ TĨNH
TỈNH HÀ TĨNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 35/2024/HS-ST
Ngày: 20/6/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ TĨNH, TỈNH HÀ TĨNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Quốc Dũng

Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Nguyễn Phi Đỉnh

- Ông Phan Văn Hiếu.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Hằng, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hà Tĩnh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Lan, Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 6 năm 2024 tại điểm cầu trung tâm Hội trường xét xử hình sự Toà án nhân dân thành phố Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh kết nối với điểm cầu thành phần tại Trại tạm giam Công an Hà Tĩnh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 36/2024/TLST-HS, ngày 10 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 37/2024/QĐXXST-HS ngày 10/6/2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn H, Sinh ngày: 28/6/1998; Nơi sinh: huyện K, tỉnh Đắk Lắk; Nơi cư trú: thôn E, xã T, huyện K, tỉnh Đắk Lắk; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: lớp 8/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn T và bà: Nguyễn Thị H1; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/4/2024 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại giam C (có mặt).

* Người chứng kiến: Anh Nguyễn Văn N; sinh năm: 1995; Trú tại: Tổ dân phố B, phường Đ, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh (vắng mặt).

* Người tham gia tố tụng khác: Cán bộ, chiến sỹ tại điểm cầu thành phần hỗ trợ phiên tòa gồm: Đ/c Nguyễn Văn T1, Đ/c Lê Sỹ Công H2 - cán bộ trại tạm giam Công an C.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 31/3/2024, Nguyễn Văn H đang ở phòng trọ tại số B đường Đ, T, phường M, quận N, thành phố Hà Nội thì có nhu cầu sử dụng ma túy nên đã sử dụng điện thoại di động Nokia có gắn sim rác (điện thoại di động H đã làm mất, H không nhớ số thuê bao) liên lạc người đàn ông tên T2 (H không biết thông tin, địa chỉ cụ thể của người này) hỏi mua 500.000 đồng ma túy dạng đá. Người đàn ông tên T2 đồng ý và hẹn giao hàng tại ngã tư đường G giao nhau với đường V, thành phố Hà Nội. H đi đến điểm hẹn, nhận ma túy và trả tiền cho người bán. Sau khi mua được ma túy, Nguyễn Văn H cầm ma túy trong lòng bàn tay phải rồi đi xe ôm đến bến xe N đón xe khách về thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh để chơi (H không nhớ hãng xe). Lúc lên xe, H lấy chai nước lọc nhãn hiệu Sương M được nhà xe để sẵn cho khách và nhét hai túi ma túy vào trong nhãn dán của chai nước lọc. Đến khoảng 01 giờ 30 phút ngày 01/4/2024, khi xe đi đến Trung tâm thương mại V, thuộc tổ dân phố A, phường H, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh thì H xuống xe mang theo chai nước có giấu ma túy để gọi taxi tìm khách sạn để nghỉ và sử dụng ma túy. Hồi 01 giờ 40 phút ngày 01/4/2024, khi H đang ngồi chờ taxi trước khu vực sảnh Trung tâm thương mại V thì bị lực lượng Công an kiểm tra chai nước lọc nhãn hiệu Sương M để sát vị trí mà Nguyễn Văn H đang ngồi, phát hiện 02 túi nilon trong suốt có cùng kích thước (02x02)cm đều chứa chất tinh thể màu trắng nghi là ma túy (ký hiệu lần lượt là M1, M2). Lúc này, Nguyễn Văn H khai nhận chất tinh thể màu trắng chứa trong 02 túi nilon là ma túy đá của H tàng trữ nhằm mục đích sử dụng. Lực lượng Công an đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Nguyễn Văn H, thu giữ và niêm phong vật chứng

Tại bản kết luận giám định số 554/KL-KTHS ngày 04/4/2024 của Phòng K Công an tỉnh C kết luận: Chất tinh thể màu trắng chứa trong 01 túi nilon trong suốt kích thước (02x02)cm (ký hiệu M1) gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 0,1329 gam; Chất tinh thể màu trắng chứa trong 01túi nilon trong suốt kích thước (02x02)cm (ký hiệu M2) gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 0,1532 gam.

Bản cáo trạng số 40/CT-VKS-TPHT ngày 07/6/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Tĩnh đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn Hiệp về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên luận tội giữ nguyên quan điểm như cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H từ 12 đến 18 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 01/4/2024.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là lao động tự do, hoàn cảnh gia đình khó khăn, hiện đang bị tạm giam nên không cần phải áp dụng hình phạt bổ sung, phạt tiền đối với bị cáo và đề nghị xử lý vật chứng vụ án.

Tại phiên tòa, bị cáo hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm tội của mình, không có ý kiến tranh luận, chỉ xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã

được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

. Về thủ tục tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Tĩnh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến, khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng quy định pháp luật.

. Về chứng cứ xác định tội danh:

2.1. Tại phiên tòa, Nguyễn Văn H khai nhận: Vào hồi 01 giờ 40 phút ngày 01/4/2024, tại trước sảnh trung tâm thương mại V thuộc tổ dân phố A, phường H, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh, Nguyễn Văn H đang có hành vi tàng trữ trái phép 0,2861 gam Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng thì bị lực lượng Công an thành phố C phát hiện bắt quả tang, thu giữ cùng tang vật. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa; phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang; kết luận giám định số 554/KL-KTHS ngày 04/4/2024 của Phòng K Công an tỉnh C. Bị cáo là người sử dụng ma túy mua ma túy về nhằm mục đích để sử dụng, không nhằm mục đích mua bán. Hành vi trên của bị cáo đã xâm phạm đến chính sách của Nhà nước về quản lý chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Như vậy, Hội đồng xét xử có đầy đủ căn cứ kết tội Nguyễn Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

2.2. Trong vụ án này, theo lời khai của Nguyễn Văn H thì số ma túy trên mua của một người đàn ông tên T2. Tuy nhiên, bị cáo không có thông tin, địa chỉ cụ thể của người này nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra, xử lý là phù hợp.

. Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

3.1. Xét tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng và được hưởng tình tiết giảm nhẹ: “Thành khẩn khai báo”, quy định điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

3.2. Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo. Hội đồng xét xử nhận thấy: bị cáo phạm tội nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Vì vậy, cần phải xét xử bị cáo một mức án nghiêm minh, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ điều kiện răn đe, cải tạo và giáo dục đối với bị cáo.

. Về hình phạt bổ sung: Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo là lao động tự do, hoàn cảnh gia đình khó khăn và hiện đang bị tạm giam. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định không cần phải áp dụng hình phạt bổ sung, phạt tiền đối với bị cáo là phù hợp.

. Xét luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa: Về tội danh, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật, về mức án đề nghị đối với Nguyễn Văn H là thỏa đáng.

. Về xử lý vật chứng: Cần áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu và tiêu hủy: 0,1115 gam và 0,1323 gam Methamphetamine (đã trừ mẫu giám định), 02 túi ni lông trong suốt kích thước 02cm x 02cm; 01 chai nước lọc nhãn hiệu Sương M kích thước (6x17)cm thu giữ tại Nguyễn Văn H là công cụ, phương tiện bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội không còn giá trị sử dụng và vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành.

Cần áp dụng điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn H 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F7 màu xanh đã qua sử dụng gắn thẻ sim số 0398804753, đây là tài sản của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội. Tuy nhiên, cần tiếp tục tạm giữ chiếc điện thoại trên để đảm bảo cho việc thi hành án.

. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự,

Tuyên bố Nguyễn Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”,

Xử phạt Nguyễn Văn H 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 01/4/2024.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu và tiêu hủy: 0,1115 gam và 0,1323 gam Methamphetamine (đã trừ mẫu giám định), 02 túi ni lông trong suốt kích thước 02cm x 02cm; 01 chai nước lọc nhãn hiệu Sương M kích thước (6x17) cm thu giữ tại Nguyễn Văn H.

Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn H 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F7 màu xanh đã qua sử dụng gắn thẻ sim số 0398804753. Tuy nhiên, cần tiếp tục tạm giữ chiếc điện thoại trên để đảm bảo cho việc thi hành án.

(Tình trạng, đặc điểm vật chứng như trong biên bản giao nhận vật chứng ngày 07/6/2024 giữa cán bộ Công an thành phố C và cán bộ Chi cục thi hành án dân sự thành phố Hà Tĩnh).

Về án phí: Áp dụng Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Nguyễn Văn H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ