- Tranh chấp gì? án hình sự — "Sùng a Thu - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Bị cáo Sùng A T1 phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUẦN GIÁO | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐIỆN BIÊN Bản án số: 35/2024/HS-ST Ngày: 13- 12- 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUẦN GIÁO, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Đình Hà
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Duy Lâm
2. Bà Bạc Thị Phương
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Lợi - Thư ký Toà án nhân dân huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên.
- Đại diện VKSND huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên tham gia phiên toà:Bà Lường Phương T - Kiểm sát viên.
Ngày 13/12/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 35/2024/TLST-HS ngày 28/11/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 36/2024/QĐXXST-HS ngày 29/11/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tuần Giáo đối với bị cáo:
1. Họ và tên: Sùng A T1; tên gọi khác: Không; giới tính: Nam, sinh năm 1991 tại huyện T, tỉnh Điện Biên; nơi cư trú: Bản P, xã P, huyện T, tỉnh Điện Biên quốc tịch: Việt nam; dân tộc: Mông; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Nông nghiệp; trình độ học vấn: 12/12; con ông: Sùng Sông D (Đã chết); con bà: Vàng Thị N, sinh năm 1958; Vợ là Giàng Thị T2, sinh năm 2000 và có một người con, sinh năm 2017; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Chưa bị xét xử, chưa bị xử lý vi phạm hành chính; bị tạm giữ tạm giam từ ngày 15/10/2024 cho đến nay, bị cáo có mặt tại phiên tòa.
2. Người bào chữa cho bị cáo: Ông Nguyễn Đình T3 - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Đ, có mặt bào chữa cho bị cáo.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 23 giờ, ngày 14/10/2024, Sùng A T1 một mình đi bộ từ nhà tại bản P, xã P, huyện T ra khu vực bản K, xã P, huyện T để tìm mua ma túy về để sử dụng và bán kiếm lời. Khi đi đến khu vực đường T thì T1 gặp, trao đổi và mua được của một người đàn ông không rõ tên, địa chỉ 02 gói nilon màu xanh, 01 gói nilon màu trắng bên trong các gói đều chứa H và 01 túi nilon màu xanh miệng túi có mép dính bên trong chứa các viên Methamphetamine với giá 6.500.000 đồng. Sau đó T1 cất giấu số ma túy vừa mua được vào trong túi quần đùi màu đen bên phải T1 đang mặc rồi đi bộ về nhà. Hồi 00 giờ 15 phút ngày 15/10/2024 khi đến khu vực cuối bản Khua Trá, xã P, huyện T thì bị tổ công tác Công an huyện T phát hiện bắt quả tang thu giữ trong túi quần đùi màu đen bên phải T1 đang mặc 02 gói nilon màu xanh, 01 gói nilon màu trắng bên trong các gói đều chứa H và 01 túi nilon màu xanh miệng túi có mép dính bên trong chứa các viên Methamphetamine.
Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng lấy mẫu giám định và niêm phong lại vật chứng hồi 05 giờ 10 phút ngày 15/10/2024 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T đã xác định: Khối lượng chất màu trắng dạng cục và dạng bột nghi ma túy loại Heroine đựng trong hai gói nilon màu xanh là 5,27 gam (M1); Khối lượng chất màu trắng dạng cục và dạng bột nghi ma túy loại Heroine đựng trong gói nilon màu trắng có khối lượng 3,56 gam (M2); khối lượng các viên nén màu hồng, nghi ma túy tổng hợp trong túi nilon màu xanh là 17,26 gam (M3). Tổng khối lượng là 26,09 gam, gửi giám định toàn bộ.
Tại Bản kết luận giám định số: 1632/KL-KTHS ngày 23/10/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ đã kết luận: Vật chứng thu giữ của Sùng A T1 ký hiệu M1, M2 là chất ma túy, loại Heroine, hoàn lại M1: 4,71 gam, M2 là 3,34 gam; M3 là chất ma túy, loại Methamphetamine, hoàn lại M3: 16,57 gam.
Tại phiên tòa, bị cáo cũng thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản Cáo trạng đã truy tố: Do bản thân nghiện ma túy nên bị cáo đã có hành vi mua ma túy về để sử dụng và bán kiếm lời. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đã thành khẩn thật thà khai báo.
Tại bản Cáo trạng số: 176/CT-VKSTG ngày 26/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo đã truy tố bị cáo về tội: "Mua bán trái phép chất ma tuý" theo quy định tại điểm p khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo luận tội bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm p khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Sùng A T1 từ 13 năm 06 tháng đến 14 năm tù về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy".
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Về vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong màu trắng các mép đều được dán kín bên trong có 02 mảnh nilon màu xanh, 01 mảnh nilon màu trắng, 01 túi nilon màu xanh và 01 vỏ phong bì cũ dùng để niêm phong vật chứng; 01 phong bì được niêm phong bên trong có chứa mẫu vật được hoàn lại: M1: 4,71 gam Heroine; M2: 3,34 gam Heroine; M3: 16,57 gam Methamphetamine.
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH về Quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: Bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm Bị cáo không tự bào chữa cho hành vi của mình, nhờ người bào chữa, bào chữa cho bị cáo.
Quan điểm bào chữa của người bào chữa: Nhất trí với bản Cáo trạng và bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo về tội danh và các tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, nhất trí với việc đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung, miễn án phí cho bị cáo. Tuy nhiên người bào chữa đề nghị HĐXX xem xét thêm các tình tiết về hành vi phạm tội, nhân thân, hoàn cảnh gia đình bị cáo là người dân tộc thiểu số, không có tiền án, tiền sự để áp dụng mức hình phạt thấp nhất có thể. Bị cáo không bổ sung gì vào lời bào chữa và không có quan điểm tranh luận.
Người bào chữa và đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm, không tranh luận gì thêm, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.
Lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) xem xét giảm nhẹ tội cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Xét hành vi của bị cáo bị truy tố: Hồi 00 giờ 15 phút, ngày 15/10/2024 tại khu vực bản K, xã P, huyện T, bị cáo bị bắt quả tang khi đang cất giấu trái phép 8,83 gam Heroine và 17,26 gam Methamphetamine, tổng khối lượng hai chất mat túy là 26,09 gam mục đích để sử dụng và bán kiếm lời.
Hành vi của bị cáo được chứng minh bằng biên bản bắt người phạm tội quả tang (BL 01-02); biên bản mở niêm phong xác định khối lượng lấy mẫu giám định và niêm phong lại vật chứng (BL37-38); kết luận giám định (BL 41); các biên bản ghi lời khai, biên bản hỏi cung của bị cáo, bản tự khai bị cáo cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án và quá trình thẩm vấn công khai tại phiên tòa hôm nay. Hành vi phạm tội của bị cáo đã hoàn thành với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi của bị cáo đã đầy đủ yếu tố cấu thành tội:“Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm p khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy. Với tác hại của chất ma túy đối với sức khỏe con người và mối nguy hại của nó đối với gia đình và xã hội. Nhà nước và toàn thể nhân dân đang có những chính sách, biện pháp phòng chống ngăn chặn nhằm đẩy lùi tệ nạn và những tội phạm về ma túy thì bị cáo lại tiếp tay cho tội phạm ma túy phát triển, gây mất trật tự trị an, an toàn xã hội, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân.
Từ những phân tích trên, HĐXX khẳng định Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, có căn cứ pháp luật. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực để chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi phạm tội của mình.
. Xét tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo cho thấy: Bị cáo đã cất giấu trái phép 8,83 gam Heroine và 17,26 gam Methamphetamine, tổng khối lượng hai chất mat túy là 26,09 gam mục đích để sử dụng và bán kiếm lời. Hành vi của bị cáo thuộc trường hợp quy định tại điểm p khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự với mức hình phạt từ 07 năm đến 15 năm tù, hành vi phạm tội của bị cáo là rất nghiêm trọng.
. Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Bị cáo Sùng A T1 sinh ra và lớn lên tại huyện T, tỉnh Điện Biên, nghiện ma túy từ năm 2023. Bị cáo không có tiền án, tiền sự, không có tình tiết tăng nặng nào. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, HĐXX áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
HĐXX xem xét hành vi phạm tội của bị cáo, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân bị cáo để có mức hình phạt phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội nhưng nhất thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, để cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho gia đình và xã hội, xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát và người bào chữa là có căn cứ nên cần được chấp nhận.
Về nguồn gốc số ma túy bị thu giữ, bị cáo khai mua của một người đàn ông không rõ tên, địa chỉ tại khu vực bản K, xã P, huyện T, cơ quan điều tra không có căn cứ làm rõ được, HĐXX không xem xét.
. Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính là phạt tù thì bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản theo khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Song xét thấy hoàn cảnh gia đình bị cáo chỉ làm nông nghiệp, là người sử dụng ma túy, gia đình thuộc diện hộ nghèo nên không có khả năng thi hành. Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
. Về xử lý vật chứng: Đối với số ma túy thu giữ của bị cáo, là vật nhà nước cấm tàng trữ lưu hành, cần bị tịch thu tiêu hủy.
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong màu trắng các mép đều được dán kín bên trong có 02 mảnh nilon màu xanh, 01 mảnh nilon màu trắng, 01 túi nilon màu xanh và 01 vỏ phong bì cũ dùng để niêm phong vật chứng; 01 phong bì được niêm phong bên trong có chứa mẫu vật được hoàn lại: M1: 4,71 gam Heroine; M2: 3,34 gam Heroine; M3: 16,57 gam Methamphetamine.
. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội Quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: Bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống tại địa bàn kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, là hộ nghèo thuộc diện được miễn án phí, có đơn xin miễn án phí, HĐXX miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo. [7]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ Luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người bào chữa cho bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp. Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm p khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự;
Căn cứ khoản 1 Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự:
1. Về tội danh: Bị cáo Sùng A T1 phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Mức hình phạt: Xử phạt bị cáo Sùng A T1: 13 (Mười ba) năm 06 (S) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ tạm giam, ngày 15/10/2024
3. Xử lý vật chứng Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong màu trắng các mép đều được dán kín bên trong có 02 mảnh nilon màu xanh, 01 mảnh nilon màu trắng, 01 túi nilon màu xanh và 01 vỏ phong bì cũ dùng để niêm phong vật chứng; 01 phong bì được niêm phong bên trong có chứa mẫu vật được hoàn lại: M1: 4,71 gam Heroine; M2: 3,34 gam Heroine; M3: 16,57 gam Methamphetamine.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng đã được Công an huyện T bàn
giao cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tuần Giáo hồi 09 giờ, ngày 27 tháng 11 năm 2024)
4. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH Quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: Bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án, ngày 13/12/2024./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Điện Biên; - VKSND tỉnh Điện Biên; - VKSND huyện Tuần Giáo; - Cơ quan Điều Tra, Cơ Quan THA hình sự (NTG), bộ phận HSNV - Công an huyện Tuần Giáo); - Sở Tư pháp tỉnh Điện Biên; - THA DS TG; - Bị cáo; người bào chữa cho bị cáo; - Lưu. HỘI THẨM Lò Văn Hải Lò Văn Thương HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | TM. HỘI ĐỒ/NG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Đình Hà THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Đình Hà |