vanban.org

Bản án 35/2024/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang Tuyên án 29/05/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Phạm Trường A1 phạm tội: “Gây rối trật tự C cộng và tội: “Cố ý gây thương tích”.

1. Xử phạt bị cáo Phạm Trường A1 02 (Hai) năm tù về tội gây rối trật tự C cộng và 01 (Một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội cố ý gây thương tích. 2. Tổng hợp hình phạt của 02 tội, xử phạt bị cáo Phạm Trường A1 03 (Ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày tạm giữ, tạm … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác (điều 104 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Phạm Trường A1 phạm tội: “Gây rối trật tự C cộng và tội: “Cố ý gây thương tích”.
  • Căn cứ chính? Điều 318 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

HỆN HÒN ĐẤT
TỈNH KIÊN GIA1G
Bản án số: 35/2024/HS-ST.
Ngày: 29/5/2024.

NHÂN DA1H

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HỆN HÒN ĐẤT – TỈNH KIÊN GIA1G

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn A

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Đ

2. Bà Phạm Hồng G

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Mộng T – Thư ký Tòa án nhân dân Hện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Hện Hòn Đất tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Minh H – Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 5 năm 2024 Tại trụ sở TA1D Hện Hòn Đất, xét xử C khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 31/2024/TLST-HS ngày 23 tháng 4 năm 2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 37/2024/QĐXXST-HS ngày 06/5/2024 đối với bị cáo: Phạm Trường A1, sinh ngày 08/4/2003; Tên gọi khác: (Cu A1 – bị cáo có mặt tại phiên tòa).

Nơi ĐKHKTT, chỗ ở hiện nay: Ấp Huỳnh Sơn, xã Lình Huỳnh, Hện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm Nhựt T1, sinh năm: 1977 và bà Lê Kim T2, sinh năm: 1983; Vợ con: không; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: tốt. Bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/12/2023 cho đến nay.

* Người bị hại: Ông Võ Văn Ố, sinh năm: 1969 (có mặt).

Địa chỉ: Ấp Huỳnh Sơn, xã Lình Huỳnh, Hện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang.

* Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quA1:

1. Anh Danh V, sinh năm 2004 (có mặt).

Địa chỉ: Ấp Lình Huỳnh, xã Lình Huỳnh, Hện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang.

2. Anh Nguyễn Văn N, sinh năm 2006 (vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp Huỳnh Sơn, xã Lình Huỳnh, Hện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang.

3. Anh Nguyễn Văn T3, sinh năm 2005 (vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp Huỳnh Sơn, xã Lình Huỳnh, Hện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang.

4. Anh Danhh Hoàng D, sinh năm 2005 (có mặt).

Địa chỉ: Ấp Hòn Quéo, xã Thổ Sơn, Hện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang.

5. A1h Danh T4, sinh năm 1999 (có mặt).

Địa chỉ: Ấp Vàm Biển, xã Lình Huỳnh, Hện Hòn Đất, tỉnh Kiên GiA1g.

6. A1h Huỳnh ThA1h Liêm, sinh năm 1997 (có mặt).

Địa chỉ: Ấp Lình Huỳnh, xã Lình Huỳnh, Hện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang.

7. Anh Phạm Hữu C, sinh năm 2005 (vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp Lình Huỳnh, xã Lình Huỳnh, Hện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang.

8. Anh Danh Rinh T5, sinh năm 2004 (có mặt).

Địa chỉ: Ấp Lình Huỳnh, xã Lình Huỳnh, Hện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang.

9. Anh Danh Tấn L, sinh năm 2004 (có mặt).

Địa chỉ: Ấp Lình Huỳnh, xã Lình Huỳnh, Hện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang.

10. Anh Danh Bé T6, sinh năm 1997 (có mặt).

Địa chỉ: Ấp Lình Huỳnh, xã Lình Huỳnh, Hện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang.

11. Anh Danh U, sinh năm 2005 (vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp Lình Huỳnh, xã Lình Huỳnh, Hện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang.

12. Anh Phan Thanh C, sinh năm 2005 (có mặt).

Địa chỉ: Ấp Lình Huỳnh, xã Lình Huỳnh, Hện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang.

13. Anh Nguyễn Nhất H, sinh năm 2005 (có mặt).

Địa chỉ: Ấp Minh Cơ, xã Vân Khánh Đông, Hện A1 Minh, tỉnh Kiên GiA1g.

14. Bà Lê Thị D1, sinh năm 1971 (có mặt).

Địa chỉ: Ấp Huỳnh Sơn, xã Lình Huỳnh, Hện Hòn Đất, tỉnh Kiên GiA1g.

15. Anh Võ Trường S, sinh năm 1999 (có mặt).

Địa chỉ: Ấp Huỳnh Sơn, xã Lình Huỳnh, Hện Hòn Đất, tỉnh Kiên GiA1g.

16. Ông Võ Văn C, sinh năm 1968 (có mặt).

Địa chỉ: Ấp Huỳnh Sơn, xã Lình Huỳnh, Hện Hòn Đất, tỉnh Kiên GiA1g.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ ngày 11/10/2022, Phạm Trường A1, Danh V, Danh Hoàng D, Phạm Hữu C, Nguyễn Nhất H ngồi chơi trên lA1 cA1 cống ngăn mặn xã Lình Huỳnh được khoảng 30 phút thì Phạm Trường A1 điều khiển xe mô tô (không rõ biển số) của D chở D đi cầm xe mô tô tại xã Thổ Sơn. Sau khi cầm xe xong, A1 và D đi đến tiệm game cách nhà DA1h V khoảng 30m chơi game cùng C, H, DA1h Hoàng D; khi đA1g chơi game C nói với A1: khi A1 và D đi cầm xe mô tô thì C ngồi trên cống ngăn mặn đã dùng dép ném trúng vào xe mô tô của Nguyễn Văn N, Nguyễn Văn T4.

Khi C đA1g chơi game thấy có một nhóm người kéo đến nhà V nên C chạy ra ngoài xem nhìn thấy Nguyễn Văn Ngọc L, Nguyễn Văn T4, Nguyễn Văn N, Nguyễn Văn Ân, Nguyễn Văn N1, Nguyễn Minh C1 biết là nhóm người này kiếm mình, C bỏ chạy vào bên trong tiệm game nói cho A1, D, H, Cao biết nhóm của Linh đA1g đứng trước cửa nhà V nên đừng đi ra ngoài. Khi thấy nhóm của Linh đã bỏ về thì A1, C, H, D, Cao từ trong tiệm game đi ra đứng tụ tập ở ngoài đường gần nhà V để đợi V.

Đến khoảng 18 giờ 30 phút cùng ngày, V đi về nhà biết nhóm của Linh ở kênh 3, xã Lình Huỳnh, Hện Hòn Đất, tỉnh Kiên GiA1g xuống nhà kiếm mình nên đi đến chỗ nhóm Phạm Trường A1, C, H, D, Cao đA1g đứng ở gần nhà của mình. V nói với C tập hợp A1h em, chuẩn bị đi đánh nhau với nhóm của Linh thì C đồng ý. Phạm Trường A1, D, H, Cao có mặt tại đây cũng đồng ý tham gia. Cùng thời điểm này DA1h Tấn Lộc, từ trong tiệm game chạy xe mô tô, biển số 68H7 – 6933 đi về nhà, D kêu Lộc và nói: “Thằng Dinh Cháy bị đụng cHện, đi tiếp nó”, biết là đi đánh nhau tiếp V nên Lộc đồng ý.

Sau đó A1, C, D, H, Cao, Lộc đi đến quán trà sữa Xuka đối diện Trường tiểu học xã Lình Huỳnh ngồi đợi và tập hợp A1h em đi đánh nhau tiếp V. Lúc này, A1 đA1g ngồi bấm điện thoại, D gọi điện thoại cho Trần Ngọc Hòa nhưng DA1h Thêm là bạn của Hòa nghe máy hỏi D: “có cHện gì”, D nói cho Thêm nghe sự việc V xảy ra mâu thuẫn với nhóm của Linh và kêu Thêm tham gia đi đánh nhau, Thêm đồng ý và kêu D chạy xe đến đón. Thời điểm này, DA1h Rinh Thi chạy xe mô tô biển số 68D1 – 689.82 đi mua đồ nhậu thì gặp C. C nói cho Thi biết V vừa xảy ra mâu thuẫn, kêu Thi đi tiếp đánh nhóm của Linh và kêu Thi lấy thêm cây dao tự chế, Thi đồng ý rồi chạy đi về nhà lấy 01 con dao tự chế rồi cùng DA1h Thắng, Tính (không rõ lai lịch), DA1h Uôl chạy đến quán trà sữa Xuka để tập hợp.

Đến khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày, C kêu tất cả đi qua ngã ba chợ xã Lình Huỳnh đứng đợi C đi đón V. Sau đó, Phạm Trường A1, H, Thi, Thắng, Tính, Uôl đi bộ đến ngã ba chợ xã Lình Huỳnh đứng đợi được một lúc thì DA1h Thêm, DA1h Bé Tý, Huỳnh ThA1h Liêm đi đến tập hợp cùng với nhóm của A1. Khoảng 15 phút sau, C chở V đến và có cầm theo 02 con dao cánh bướm, dài khoảng 0,5m, C đưa cho Phạm Trường A1 và Thêm mỗi người cầm 01 con dao, Thi đưa cho C con dao tự chế của Thi. Sau đó, C đổ xăng vào 08 vỏ chai bia rồi lấy mảnh vải H đã cắt sẵn bịt kín vào đầu chai bia, làm bom xăng xong C cầm lấy một chai bom xăng, Cao và Lộc đi đến lấy mỗi người một chai bom xăng. H, D mỗi người cầm 02 chai bom xăng.

Sau khi chuẩn bị xong, Thi điều khiển xe mô tô, biển số 68D1 – 689.82 chở V và C (V cầm con dao tự chế, dài khoảng 125cm; C cầm con dao, loại dao cánh bướm, dài khoảng 0,5m), Tý điều khiển xe mô tô, biển số 68D1 – 364.40 chở Liêm (Liêm cầm cây thương làm bằng kim loại dài khoảng 02m); Phạm Trường A1 điều khiển xe mô tô (chưa xác định biển số) chở H và D (Phạm Trường A1 cầm 01 con dao tự chế, dài khoảng 0,5m của Thi; H, D mỗi người cầm 02 chai bom xăng). Lộc điều khiển xe mô tô, biển số 68H7 – 6933 chở Cao và Thêm (Thêm cầm con dao, loại dao cánh bướm, dài 0,5m; Lộc, Cao mỗi người cầm 01 chai bom xăng). Thắng điều khiển xe mô tô, biển số 68H6 – 9802 chở Tính, DA1h Uôl chạy lần lượt theo phía sau.

Khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, nhóm của A1, V đến đỗ xe cách cầu kênh 3, xã Lình Huỳnh khoảng 100m (hướng xã Lình Huỳnh đi thị trấn Hòn Đất). Thi, Tý, Uôl, Cao, Lộc đứng đợi ở vị trí đỗ xe. A1, V, C, D, H, Thêm, Liêm cầm theo hung khí đi bộ về hướng cầu kênh 3 thấy Huỳnh ThA1h Nhã, Võ Trường Vũ, Võ Văn Hậu, Nguyễn Minh Châu đA1g ngồi nhậu trước cửa nhà Hậu nằm ở mé sông, dưới chân cầu kênh 3. Thấy Nhã, Vũ, Hậu, Châu đA1g ngồi trước cửa nhà V trên tay cầm dao chạy lại trước. A1, C, D, H, Thêm, Liêm chạy theo sau, thấy nhóm của A1, V nên Nhã, Vũ, Hậu, Châu bỏ chạy trốn vào trong nhà, V đứng giữa đường lộ nhựa xã Lình Huỳnh hét lớn: “Ai đòi đập nhà tao đâu, ra đây” nhưng không ai trả lời. D, H đứng ngoài đường lộ nhặt những khúc cây củi khô ném vào trong nhà của Hậu.

Ông Võ Văn Ốc, bà Lê Thị Dân (vợ ông Ốc), Võ Trường Sơn (con ruột ông Ốc) đA1g ngồi trong nhà nghe thấy tiếng la hét, chửi bới ở bên ngoài nên đi ra, ông Ốc cầm một khúc cây dài 4m đi đến, đứng dưới mé đường lộ nói nhóm của V: “Giờ này làm gì mà tụi mày kéo lên đập phá nhà người ta” thì Liêm đA1g đứng gần vị trí của ông Ốc, thấy ông Ốc có cầm cây, Liêm cầm cây “thương” định đánh ông Ốc, ông Ốc cầm khúc cây chọc trúng vào vai phải của Liêm, Liêm cùng ông Ốc giằng co trước sân nhà ông Ốc được một lúc thì Liêm la lên: “Quýnh chết mẹ ông”, nghe thấy Liêm la, Phạm Trường A1 cầm một con dao cánh bướm, dài khoảng 0,5m. V cầm một con dao tự chế dài khoảng 1,5m. Thêm cầm một con dao cánh bướm, dài khoảng 0,5m chạy lại, thấy ông Ốc bị vấp ngã xuống đất và đA1g giơ hai chân hướng lên trên để đỡ thì A1 cầm cây dao tự chế chém một nhát, trúng vào gót chân phải của ông Ốc gây thương tích.

Lúc này, Võ Trường Sơn đứng ngay bên cạnh, thấy ông Ốc bị chém nên chạy lại cA1 ngăn thì bị V chém trúng vào vùng đầu gây thương tích; ông Võ Văn Cung đA1g ở trong nhà nghe thấy ngoài đường có tiếng la hét, đánh nhau nên đi ra cA1 ngăn bị V cầm dao chém trúng vào cánh tay phải của ông Cung gây thương tích. Khi thấy nhóm của A1, V đánh ông Ốc, Cung, Sơn và bà Dân, Châu từ nhà Hậu chạy đến cầm theo khúc cây (dầm bơi xuồng) lấy từ trong nhà Hậu, Hậu cầm con dao rựa quắm từ trong nhà chạy ra chống trả nên nhóm của A1, V chạy ra vị trí đỗ xe rút bỏ chạy về hướng xã Lình Huỳnh. Ông Võ Văn Ốc, Võ Văn Cung và Võ Trường Sơn được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Kiên GiA1g, bà Lê Thị Dân tự sơ cứu tại nhà.

Bị cáo Phạm Trường A1 sau khi phạm tội đã bỏ trốn, đến ngày 06/12/2023 bị bắt truy nã tại phường Long Bình Tân, thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai.

* Tại Kết luận giám định pháp y về thương tích số: 678/TgT ngày 21/11/2022 của Trung tâm pháp y tỉnh Kiên GiA1g đối với ông Võ Văn Ốc kết luận:

1. Dấu hiệu chính qua giám định:

- Sẹo phần mềm vùng hông phải và ngón I chân trái.

- Vết thương gót chân phải lóc mất da; đA1g nhiễm trùng, viêm loét hoại tử da và mô dưới da, lộ các thớ cơ ở gót.

2. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại ở:

- Vùng hông phải là: 02% (Hai phần trăm).

- Gót chân phải là: 16% (Mười sáu phần trăm).

- Ngón I chân trái là: 01 % (Một phần trăm).

3. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là: 19% (Mười chin phần trăm).

4. Vật gây thương tích:

- Thương tích gót chân phải và ngón I chân trái do vật sắc gây nên.

- Thương tích vùng hông phải do vật tày có góc cạnh gây nên.

5. Về cơ chế hình thành thương tích:

- Thương tích vùng hông phải do vật tỳ có góc cạnh tác động theo hướng từ phải qua trái, từ sau ra trước so với trục giải phẫu của cơ thể.

- Thương tích gót chân phải do vật sắc tác động theo hướng từ trái qua phải (khi bàn chân ở tư thế ngửa lòng) so với trục giải phẫu của cơ thể.

- Thương tích ngón I chân trái do vật sắc tác động theo hướng trước ra sau, từ trái qua phải so với trục giải phẫu của cơ thể.

* Tại bản Cáo trạng số: 38/CT-VKS-HĐ ngày 16/4/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân Hện Hòn Đất đã truy tố bị cáo Phạm Trường A1 về tội: “Gây rối trật tự C cộng” quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 318 và tội: “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ Luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

* Tại phiên tòa: Vị đại diện Viện kiểm sát giữ quyền C tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quA1 điểm như cáo trạng đã truy tố bị cáo về tội dA1h và điều luật, đồng thời phân tích, đánh giá tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng các điểm a, b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 BLHS xử phạt bị cáo Phạm Trường A1 mức án từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.

- Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 54, Điều 38 BLHS xử phạt bị cáo Phạm Trường A1 mức án từ 01 năm 06 tháng tù đến 02 năm tù.

Do bị cáo Phạm Trường A1 phạm hai tội nên đề nghị HĐXX áp dụng Điều 55 BLHS tổng hợp hình phạt chung đối với bị cáo Phạm Trường A1 mức án từ 03 năm 06 tháng tù đến 04 năm 06 tháng tù.

* Vật chứng của vụ án gồm:

- Nhiều mảnh vỡ thủy tinh (vỏ chai bia), không đồng nhất, màu nâu, các mảnh vỡ có kích thước khác nhau.

- 01 (một) đoạn cây gỗ màu đen, dài 169,5cm, đường kính gốc là 5,5cm, ngọn cây là 4,5cm, có bám nhiều bùn đất.

- 01 (một) con dao yếm, mặt lưỡi sắc, tay cầm bằng gỗ, màu đen, chiều dài 36,5cm, phần lưỡi dao dài 22,5cm, rộng nhất 7cm và hẹp nhất 2cm.

- 01 (một) đoạn gỗ, màu xám, dạng hình tam giác, một cạnh có vết gãy, kích thước 57,5cm x 6,5cm x 2cm.

- 01 (một) đoạn gỗ, màu xám, dạng hình tam giác, một cạnh có vết gãy, kích thước 43cm x 3,2cm x 2cm.

- 01 (một) đoạn gỗ, màu xám, dạng hình tam giác, một cạnh có vết gãy, kích thước 75,1cm x 2cm x 2cm.

- 01 (một) đoạn gô, màu xám, hai cạnh có vết gãy, kích thước 53,2cm x 2cm x 2,2cm.

- 01 (một) con dao tự chế (loại dao quắm), bằng kim loại, một lưỡi sắc, tay cầm dạng ống tròn, đã bị rỉ sét, chiều dài 65,3cm; trong đó tay cầm dài 35,5cm x 3cm; lưỡi dao dài 29,8cm, đường kính rộng nhất 4,1cm và đường kính nhỏ nhất 2,9cm.

- 01 (một) con dao tự chế, dài 125cm; tay cầm bằng sắt, hình tròn dài 33,5cm; lưỡi dao bằng kim loại, dài 68,5cm; phần lưỡi dao hẹp nhất là 3,5cm và rộng nhất là 5cm, dao đã bị rỉ sét.

Các vật chứng nêu trên theo quyết định số 21/QĐ-VKS ngày 09/8/2023 của Viện Kiểm sát nhân dân Hện Hòn Đất đối với vụ án gây rối trật tự C cộng và cố ý gây thương tích đối với bị cáo DA1h V cùng đồng bọn hiện đA1g được xử lý của vụ án này nên đề nghị HĐXX miễn xét.

* Đối với các vật chứng còn lại của vụ án gồm:

- Con dao tự chế, dài 0,5m của Phạm Hữu C;

- Cây thương làm bằng kim loại dài khoảng 2m, phần đầu cây thương có ba mũi, mũi chính giữa nhọn dẹp, dài 20cm, hai mũi hai bên cạnh dài 2cm của Huỳnh ThA1h Liêm;

- Con dao cánh bướm, dài 0,5m của DA1h Thêm và Phạm Trường A1 sử dụng mục đích gây thương tích cho người khác vào đêm ngày 11/10/2022;

- Những khúc cây củi khô, dài 40cm mà D đã ném trúng vào vùng mặt của bà Dân.

Cơ quA1 Cảnh sát điều tra C A1 Hện Hòn Đất đã tiến hành tìm kiếm nhưng không tìm được nên đề nghị HĐXX không xem xét.

* Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra phía gia đình bị cáo đã nộp số tiền là 5.000.000 đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự Hện Hòn Đất để khắc phục hậu quả cho bị hại ông Võ Văn Ốc. Đồng thời, tại phiên tòa phía bị cáo đồng ý bồi thường thêm cho bị hại số tiền là 5.000.000 đồng. Tổng cộng phía ông Võ Văn Ốc đồng ý nhận số tiền bồi thường tổng cộng là 10.000.000 đồng, phía bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó đề nghị HĐXX xem xét buộc bị cáo phải bồi thường cho ông Ốc số tiền là 10.000.000 đồng.

* Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch theo quy định của pháp luật.

* Tại phiên tòa: Bị cáo Phạm Trường A1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như lời khai của bị cáo tại cơ quA1 điều tra cũng như nội dung bản cáo trạng mà vị đại diện Viện kiểm sát đã C bố tại phiên tòa.

* Lời nói sau cùng của bị cáo trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình và đã biết ăn năn, hối cải. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được trA1h tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quA1, người tiến hành tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quA1 điều tra C A1 Hện Hòn Đất, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Hện Hòn Đất, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến và khiếu nại về hành vi, quyết định của các cơ quA1 tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của cơ quA1 tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi bị truy tố của bị cáo: Vào ngày 11/10/2022 tại khu vực ngã ba chợ xã Lình Huỳnh thuộc ấp Lình Huỳnh, xã Lình Huỳnh, Hện Hòn Đất, tỉnh Kiên GiA1g DA1h V kêu Phạm Hữu C, Nguyễn Nhất H, DA1h Hoàng D, Phạm Trường A1, PhA1 ThA1h Cao chuẩn bị hung khí (dao tự chế, chai đựng xăng) để đi đánh nhau tại khu vực kênh 3 thuộc ấp Huỳnh Sơn, xã Lình Huỳnh, Hện Hòn Đất, tỉnh Kiên GiA1g;

DA1h V gọi điện thoại kêu DA1h Bé Tý, Huỳnh ThA1h Liêm cùng đi, Phạm Hữu C là người kêu gọi DA1h Rinh Thi, DA1h Uôl, DA1h Hoàng D, DA1h Tấn Lộc, DA1h Thêm. DA1h V, DA1h Thêm, DA1h Rinh Thi, DA1h Hoàng D, DA1h Bé Tý, DA1h Tấn Lộc, DA1h Uôl, Phạm Hữu C.

Phạm Trường A1 cầm một con dao cánh bướm, V cầm một con dao tự chế, Thêm cầm một con dao cánh bướm, thấy ông Võ Văn Ốc bị vấp ngã xuống đất và đA1g giơ hai chân hướng lên để đỡ thì Phạm Trường A1 cầm cây dao tự chế chém một nhát, trúng vào gót chân phải của ông Võ Văn Ốc gây thương tích 19%, gây rối loạn trật tự trước cửa nhà ông Võ Văn Ốc, Võ Thị Bùi, Nguyễn Thị Nhiên, Nguyễn Thị Ngân thời giA1 khoảng 20 phút, làm xáo trộn nghiêm trọng hoạt động của nhiều người, gây hoA1g mA1g, bức xúc trong quần chúng nhân dân. Hành vi của bị cáo Phạm Trường A1 đã phạm vào tội: “Gây rối trật tự C cộng” quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 318 và tội: “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ Luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân Hện Hòn Đất đã truy tố bị cáo như kết luận tại bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Hện Hòn Đất là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật.

Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, bị cáo đã rủ rê, lôi kéo người khác và dùng hung khí nguy hiểm để gây thương tích cho người bị hại, xâm phạm trực tiếp đến sức khỏe của người khác được Bộ luật hình sự bảo vệ. Đồng thời còn xâm phạm trật tự C cộng, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình A1 ninh chính trị, trật tự, A1 toàn xã hội tại địa phương, gây tâm lý hoA1g mA1g, lo lắng trong quần chúng nhân dân và dư luận xấu trong xã hội. Bị cáo là người có đủ năng lực hành vi hình sự, nhận thức rõ hành vi dùng hung khí nguy hiểm gây thương tích cho người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện mặc dù giữa bị hại và bị cáo không có mâu thuẫn gì, điều này thể hiện tính chất côn đồ, thái độ hung hăng, xem thường sức khỏe, tính mạng của người khác. Do đó cần phải xử lý bị cáo bằng một bản án thật nghiêm và áp dụng mức hình phạt tương xứng đối với hành vi phạm tội của bị cáo, mới có tác dụng giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Đối với tội: “Gây rối trật tự C cộng”: Bị cáo Phạm Trường A1 không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

- Đối với tội: “Cố ý gây thương tích”: Bị cáo Phạm Trường A1 không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tự nguyện bồi thường thiệt hại theo quy định tại điểm b và s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xét bị cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 1 Điều 51 BLHS do đó HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 54 BLHS để xem xét quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng cho bị cáo khi lượng hình.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại ông Võ Văn Ốc yêu cầu bồi thường thiệt hại do bị thương tích gây nên với tổng số tiền là 10.000.000 đồng. Bị cáo Phạm Trường A1 đã tự nguyện nộp vào Chi cục Thi hành án Hện Hòn Đất số tiền là 5.000.000 đồng, tại phiên tòa bị cáo Phạm Trường A1 tự nguyện đồng ý bồi thường tiếp số tiền còn lại là 5.000.000 đồng cho bị hại ông Võ Văn Ốc nên HĐXX ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo.

QuA1 điểm truy tố của Viện kiểm sát: Viện kiểm sát truy tố bị cáo Phạm Trường A1 về tội “Gây rối trật tự C cộng” quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 318 và tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ Luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ. QuA1 điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Hện Hòn Đất tại phiên tòa về việc đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về Vật chứng của vụ án: Vật chứng của vụ án hiện đA1g được xử lý ở vụ án DA1h V cùng đồng bọn phạm tội theo quyết định số 21/QĐ-VKS ngày 09/8/2023 của Viện Kiểm sát nhân dân Hện Hòn Đất đối với vụ án gây rối trật tự C cộng và cố ý gây thương tích đối với bị cáo DA1h V cùng đồng bọn hiện đA1g được xử lý của vụ án này nên HĐXX miễn xét.

Về án phí: Buộc bị cáo Phạm Trường A1 bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng và án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: Bị cáo Phạm Trường A1 phạm tội: “Gây rối trật tự C cộng và tội: “Cố ý gây thương tích”.

2. Áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 318, điểm đ khoản 2 Điều 134; các điểm b, s khoản 1 Điều 51, Điều 38, khoản 1 Điều 54 và Điều 55 Bộ luật hình sự năm 2015; được sửa đổi bổ sung năm 2017.

2.1. Xử phạt bị cáo Phạm Trường A1 02 (Hai) năm tù về tội gây rối trật tự C cộng và 01 (Một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội cố ý gây thương tích.

2.2. Tổng hợp hình phạt của 02 tội, xử phạt bị cáo Phạm Trường A1 03 (Ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày tạm giữ, tạm giam, ngày 06/12/2023.

3. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Phạm Trường A1 phải bồi thường cho bị hại ông Võ Văn Ố số tiền tổng số tiền là 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng).

3.1. Đối với số tiền 5.000.000 đồng do bị cáo nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự Hện Hòn Đất để khắc phục bồi thường theo biên lai thu tiền số 0009852 ngày 23 tháng 02 năm 2024. Số tiền này hiện đang do Chi cục Thi hành án dân sự Hện Hòn Đất tạm giữ do đó ông Võ Văn Ố được nhận số tiền này tại Chi cục Thi hành án dân sự Hện Hòn Đất khi án có hiệu lực pháp luật.

3.2. Buộc bị cáo Phạm Trường A1 phải tiếp tục bồi thường cho bị hại là ông Võ Văn Ốc số tiền là 5.000.000 đồng.

4. Về xử lý vật chứng: Miễn xét.

5. Về án phí: Áp dụng các Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy bA1 thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Phạm Trường A1 phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và phải nộp số tiền án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng).

6. Về quyền kháng cáo: Báo cho bị cáo, bị hại biết có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự đã được sửa đổi bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự đã được sửa đổi bổ sung năm 2014.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ