vanban.org

Bản án 35/2024/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Bình Chánh, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 01/02/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

* Căn cứ vào điểm a khoản 2, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 298 của Bộ luật tố tụng hình sự đối với bị cáo Cao Hồng P:

Xử phạt bị cáo Cao Hồng P 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 22/8/2023. Phạt bổ sung bị cáo Cao Hồng P số tiền 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng để nộp Ngân sách nhà nước. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Cao Hồng P, Nguyễn Thanh Q - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? * Căn cứ vào điểm a khoản 2, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 298 của Bộ luật tố tụng hình sự đối với bị cáo Cao Hồng P:
  • Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị Quyết
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BÌNH CHÁNH
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 35/2024/HS-ST
Ngày 01-02-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lý Thường Đông.

Bà Nguyễn Thị Nguyên.

Ông Võ Thanh Nhàn.

- Thư ký phiên tòa: Ông Đào Văn Long – Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Minh Pháp - Kiểm sát viên.

Ngày 01 tháng 02 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 16/2024/TLST-HS ngày 15 tháng 01 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2024/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 01 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Cao Hồng P, sinh năm 1995 tại Thành phố Hồ Chí Minh; giới tính: Nam; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: A14/24A Khu phố M, thị trấn T, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở: Như trên; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 10/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Cao Văn T và bà Nguyễn Thị Kim C; bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/8/2023 đến nay; Bị cáo có mặt tại phiên tòa;

2. Nguyễn Thanh Q, sinh năm 1998 tại Thành phố Hồ Chí Minh; giới tính: Nam; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: D9/30C Ấp B, xã B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở: Không nơi cư trú nhất định; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 6/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Thanh T và bà Hồ Thị Kim L; bị cáo có vợ và 01 người con, sinh năm 2018; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/8/2023 đến nay; Bị cáo có mặt tại phiên tòa;

* Người tham gia tố tụng khác:

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Ngô Thị H, sinh năm 1995 – (vắng mặt)

Nơi cư trú: Tổ B, Khu phố B, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

2. Bà Phan Thị Hồng O, sinh năm 1999 – (vắng mặt)

Nơi cư trú: 7-9 đường số H, Khu phố N, thị trấn T, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.

3. Bà Phan Thị Kim T, sinh năm 1987 – (vắng mặt)

Nơi cư trú: 7-9 đường số H, Khu phố N, thị trấn T, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 20 giờ 20 phút ngày 20/8/2023, Nguyễn Thanh Q điều khiển xe mô tô biển số 60AA-025.94 đi đến trước địa chỉ: 257 Khu phố N, thị trấn T, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh thì bị Lực lượng Công an tiến hành dừng xe kiểm tra. Qua kiểm tra lực lượng Công an phát hiện trên tay trái của Q đang cầm 01 gói nylon bên trong có 01 gói nylon màu vàng có chữ CHALI và 02 viên nén màu tím được Nguyễn Thanh Q khai nhận là ma túy tổng hợp (nước vui và thuốc lắc) của Q cất giữ nhằm mục đích để bán kiếm lời. Do đó, lực lượng Công an đã tiến hành thu giữ vật chứng, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Q. Sau đó, vụ việc được chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Chánh để điều tra xử lý.

Tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Q tại Phòng 16 Lầu 3, khách sạn Hoàng Gia, địa chỉ: số 7-9 đường số H, Khu phố N, thị trấn T, huyện B. Tại thời điểm khám xét có mặt Cao Hồng P, phát hiện thu giữ 01 hộp nhựa màu xanh có chữ “Bé Su”, bên trong có 01 gói nylon chứa tinh thể không màu; 01 gói nylon bên trong có 03 gói nylon chứa tinh thể không màu, 01 gói nylon chứa 02 viên nén màu xanh, 05 viên nén màu tím và 01 viên nén màu xám, 04 gói nylon màu cam trắng có chữ CAMELLIA bên trong có chứa chất bột và 01 túi giấy màu nâu bên trong có 01 cân điện tử, 01 đoạn ống hút nhựa màu xanh cắt nhọn một đầu, 10 gói nylon rỗng, 01 hộp quẹt ga; 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu xanh. P khai nhận số ma túy tổng hợp là của P mua về phân chia nhỏ cất giữ nhằm mục đích cùng Q bán lại cho người khác nên lực lượng Công an đã tiến hành thu giữ vật chứng, đưa P cùng tang vật về trụ sở để điều tra xử lý.

Ngày 29/8/2023, Phòng Kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh có kết luận giám định số 9190/KL-KTHS kết luận:

- Gói 01:

+ Bột màu tím được ký hiệu mẫu m1 cần giám định (đã nêu ở mục II.1) là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 1,3910 gam, loại Ketamine.

+ 02 viên nén màu tím được ký hiệu mẫu m2 cần giám định (đã nêu ở mục II.1) có tổng khối lượng 0,9539 gam, không tìm thấy ma túy.

- Gói 02:

+ Tinh thể không màu được ký hiệu mẫu m3 cần giám định (đã nêu ở mục II.1) là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 1,2781 gam, loại Ketamine.

+ Tinh thể không màu được ký hiệu mẫu m4 cần giám định (đã nêu ở mục II.1) là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 1,7605 gam, loại Ketamine.

+ Tinh thể không màu được ký hiệu mẫu m5 cần giám định (đã nêu ở mục

- II.1) là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 1,8530 gam, loại Ketamine.

+ Tinh thể không màu được ký hiệu mẫu m6 cần giám định (đã nêu ở mục II.1) là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 1,7631 gam, loai Ketamine.

+ 02 viên nén màu xanh được ký hiệu mẫu m7 cần giám định (đã nêu ở mục II.1) có tổng khối lượng 0,6917 gam, không tìm thấy ma túy.

+ 05 viên nén màu tím được ký hiệu mẫu m8 cần giám định (đã nêu ở mục II.1) có tổng khối lượng 2,3030 gam, không tìm thấy ma túy.

+ 01 viên nén màu xám được ký hiệu mẫu m9 cần giám định (đã nêu ở mục II.1) là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,4511 gam, loại Ketamine.

+ Bột màu vàng được ký hiệu mẫu m10 cần giám định (đã nêu ở mục II.1) đều là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 4,6612 gam, loại Methamphetamine, MDMA, Nimetazepam..

Ngày 08/12/2023, Phòng Kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh có Văn bản số 2409/PC09-Đ4 xác định: bột màu vàng qua giám định đều là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 4,6612 gam, loại Methamphetamine, MDMA, Nimetazepam. Theo Thông tư liên tịch số 08/2015/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP ngày 14/11/2015 của Bộ Công an - Viện kiểm sát nhân dân tối cao - Tòa án nhân dân tối cao - Bộ Tư pháp, các mẫu trên không thuộc các trường hợp bắt buộc phải giám định hàm lượng nên không giám định.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, Nguyễn Thanh Q khai nhận: Bản thân Q nghiện ma túy được khoảng ba tháng. Q và Cao Hồng P thuê Phòng 16 Lầu 3, khách sạn Hoàng Gia, địa chỉ: số 7-9 đường số H, Khu phố N, thị trấn T, huyện B để cùng nhau hoạt động mua bán trái phép chất ma túy được khoảng 02 tuần. Q bán ma túy cho P được 6 lần cho nhiều người ở khu vực thị trấn T. Tiền lời thu được từ bán ma túy sẽ trả tiền thuê khách sạn và chia nhau tiêu xài. Vào khoảng 19 giờ 00 phút ngày 20/8/2023, do hết ma túy để bán cho khách nên Cao Hồng P nói với Nguyễn Thanh Q đi đến nhà của Đ (không rõ lai lịch) tại địa chỉ: Nhà không số, Tổ T, Khu phố H, thị trấn T, huyện B để lấy ma túy về bán thì Q đồng ý. Khi Q đến, thì Đ đưa cho Q 01 gói nylon chứa 10 viên thuốc lắc và 04 gói nylon chứa ma túy khay, nhận ma túy xong, Q đem về Phòng 16 Lầu 3, khách sạn Hoàng Gia đưa cho P cất giữ. Đến khoảng 20 giờ ngày 20/8/2023, có khách đặt mua ma túy của P với giá 2.500.000 đồng, P đưa cho Q 01 gói nước vui và 02 viên thuốc lắc mang đi bán cho một người ở quán Karaoke Điểm Hẹn, đường N, Khu phố N, thị trấn T, huyện B nhưng chưa kịp giao cho khách thì bị lực lượng Công an kiểm tra, phát hiện bắt quả tang như đã nêu trên.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, Cao Hồng P khai nhận: Bản thân P nghiện ma túy. Vào khoảng 19 giờ 00 phút ngày 20/8/2023, do hết ma túy để bán cho khách nên Cao Hồng P nói với Nguyễn Thanh Q đi đến nhà của Đ (không rõ lai lịch) tại địa chỉ: Nhà không số, Tổ T, Khu phố H, thị trấn T, huyện B để lấy ma túy về bán thì Q đồng ý. Khi Q đến, thì Đ đưa cho Q 01 gói nylon chứa 10 viên thuốc lắc và 04 gói nylon chứa ma túy khay, nhận ma túy xong, Q đem về Phòng 16 Lầu 3, khách sạn Hoàng Gia đưa cho P cất giữ. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, H (không rõ lai lịch) gọi điện thoại cho P hỏi mua 01 gói nước vui và 02 viên thuốc lắc, P đống ý bán với giá 2.500.000 đồng, thỏa thuận giao dịch tại trước quán Karaoke Điểm Hẹn, đường N, Khu phố N, thị trấn T, huyện B. Sau đó, P nói Q đi giao cho H, khi đến nơi thì gọi điện thoại cho P để P gọi điện thoại cho H ra lấy ma túy và nhận 2.500.000 đồng đem về cho P nhưng Q chưa kịp giao cho khách thì bị bắt. P mua ma túy của Đ được khoảng 3 - 4 lần tại nhà Đ, không nhớ thời gian cụ thể, mỗi lần mua với giá từ 5.000.000 đồng đến 9.000.000 đồng. Q và P đã cùng nhau thuê Phòng 16 Lầu 3, khách sạn Hoàng Gia để hoạt động mua bán ma túy được khoảng 02 tuần và đã bán ma túy cho người khác khoảng 6 lần. Tiền lời thu được từ bán ma túy sẽ dùng trả tiền thuê khách sạn và chia nhau tiêu xài.

- Vật chứng thu giữ của Nguyễn Thanh Q:

+ 01 gói nylon bên trong có: 01 gói nylon màu vàng có chữ “CHALI” chứa bột màu tím, qua giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 1,3910 gam, loại Ketamine; 02 viên nén màu tím có tổng khối lượng 0,9539 gam, không tìm thấy ma túy.

+ 01 xe mô tô biển số 60AA-025.94, số khung: RNGKCB3NGC1023503, số máy: VZS139FMB.

+ 01 điện thoại di động hiệu Nokia cùng 01 sim số thuê bao 0372731882, Q sử dụng vào việc liên lạc với P để mua bán trái phép chất ma túy.

- Vật chứng thu giữ của Cao Hồng P khi khám xét khẩn cấp.

+ 01 hộp nhựa màu xanh có chữ “Bé Su”, bên trong có 01 gói nylon chứa tinh thể không màu, qua giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 1,2781 gam, loại Ketamine.

+ 01 gói nylon bên trong có: 03 gói nylon chứa tinh thể không màu, qua giám định đều là ma túy ở thể rắn, có khối lượng lần lượt là 1,7605 gam, 1,8530 gam, 1,7631 gam cùng loại Ketamine; 01 gói nylon chứa 01 viên nén màu xám, qua giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,4511 gam, loại Ketamine và 02 viên nén màu xanh, 05 viên nén màu tím có tổng khối lượng lần lượt là 0,6917 gam và 2,3030 gam, không tìm thấy ma túy; 04 gói nylon màu cam trắng có chữ CAMELLIA bên trong có chứa chất bột màu vàng qua giám định đều là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 4,6612 gam, loại Methamphetamine, MDMA, Nimetazepam.

+ 01 túi giấy màu nâu, bên trong có: 01 cân điện tử, 01 đoạn ống hút nhựa màu xanh cắt nhọn một đầu, 10 gói nylon rỗng, 01 quẹt ga.

+ 01 điện thoại di động hiệu Iphone cùng 01 sim số thuê bao 0903704034, P sử dụng vào việc liên lạc mua bán trái phép chất ma túy.

- 01 đĩa DVD chứa dữ liệu ghi hình có âm thanh lời khai Cao Hồng P và Nguyễn Thanh Q chuyển cùng hồ sơ vụ án.

Tại Cáo trạng số: 304/CT-VKS ngày 21/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố các bị cáo Cao Hồng P, Nguyễn Thanh Q về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng khoản 1, khoản 5 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017:

+ Xử phạt bị cáo Cao Hồng P từ 06 năm 06 tháng đến 07 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; phạt bổ sung bị cáo từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng.

+ Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh Q từ 06 năm đến 06 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; phạt bổ sung bị cáo từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng.

Về xử lý vật chứng:

+ Tịch thu tiêu hủy: 01 gói nylon màu vàng có chữ “CHALI” chứa bột màu tím, qua giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 1,3910 gam, loại Ketamine; 02 viên nén màu tím có tổng khối lượng 0,9539 gam, không tìm thấy ma túy; 01 gói nylon, qua giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng là 1,2781 gam, loại Ketamine; 01 gói nylon, qua giám định là ma túy ở thể rắn có khối lượng là 1,7605 gam, loại Katemine; 01 gói nylon, qua giám định là ma túy ở thể rắn có khối lượng là 1,8530 gam; 01 gói nylon, qua giám định là ma túy ở thể rắn có khối lượng là 1,7631 gam, loại Katemine; 01 gói nylon chứa 01 viên nén màu xám, qua giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,4511 gam, loại Ketamine; 02 viên nén màu xanh có tổng khối lượng là 0,6917 gam không tìm thấy ma túy; 05 viên nén màu tím có tổng khối lượng lần lượt là 2,3030 gam, không tìm thấy ma túy; 04 gói nylon màu cam trắng có chữ CAMELLIA bên trong có chứa chất bột màu vàng qua giám định đều là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 4,6612 gam, loại Methamphetamine, MDMA, Nimetazepam; 01 hộp nhựa màu xanh có chữ “Bé Su”; 01 túi giấy màu nâu, bên trong có: 01 cân điện tử, 01 đoạn ống hút nhựa màu xanh cắt nhọn một đầu, 10 gói nylon rỗng, 01 quẹt ga.

+ Tịch thu nộp ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Nokia cùng 01 sim số thuê bao 0372731882 thu giữ của bị cáo Q và 01 điện thoại di động hiệu Iphone cùng 01 sim số thuê bao 0903704034 thu giữ của bị cáo P.

+ Giao Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh cho đăng tải trên các phương tiện thông tin đại chúng trong thời hạn nhất định để tìm chủ sở hữu hợp pháp đối với xe mô tô biển số 60AA-025.94, số khung: RNGKCB3NGC1023503, số máy: VZS139FMB. Trong hạn trên ai xuất trình đầy đủ các tài liệu chứng minh chủ sở hữu thì trả lại. Quá thời hạn trên không ai đến nhận thì tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước.

+ Lưu giữ hồ sơ vụ án 01 đĩa DVD chứa dữ liệu ghi hình có âm thanh lời khai Cao Hồng P và Nguyễn Thanh Q chuyển cùng hồ sơ vụ án.

Tại phiên tòa, các bị cáo Cao Hồng P, Nguyễn Thanh Q khai nhận: Cao Hồng P và Nguyễn Thanh Q đã cùng nhau hoạt động mua bán trái chất ma túy trước ngày bị bắt quả tang (20/8/2023) được khoảng 02 tuần. Các bị cáo cùng thỏa thuận phân công vai trò nhiệm vụ từ khi mới cùng nhau hoạt động mua bán trái phép chất ma túy như sau: P là người bỏ tiền ra mua ma túy về cất giấu ma túy trong khách sạn Hoàng Gia chờ bán lại trái phép chất ma túy cho người khác. P phụ trách liên hệ với người mua ma túy, khi có người liên lạc hỏi mua ma túy thì P thỏa thuận giá cả, địa điểm giao ma túy với người mua ma túy rồi kêu Q mang ma túy đến điểm giao dịch giao ma túy cho người mua rồi thu tiền về giao cho P. Tiền lời thu được từ việc bán ma túy sẽ dùng trả tiền thuê phòng khách sạn và chia nhau tiêu xài và Q đã đi bán ma túy cho P được 06 lần cho nhiều người khác nhau. Khi hết ma túy bán cho khách thì P điện thoại liên lạc hỏi mua ma túy của Đ và tự mình hoặc kêu Q đến chỗ Đ để lấy ma túy mang về Phòng 16 Lầu 3, khách sạn Hoàng Gia đưa cho P cất giữ chờ bán lại cho người khác kiếm lời. Các bị cáo rất ăn năn hối hận và đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt mức án thấp nhất để các bị cáo sớm quay về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Chánh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.

Xét thấy lời khai tại phiên tòa của các bị cáo phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, vật chứng của vụ án, Kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Vào lúc 20 giờ 20 phút ngày 20/8/2023, Cao Hồng P đưa ma túy cho Nguyễn Thanh Q mang đi bán cho người khác để kiếm lời, khi Q điều khiển xe mô tô biển số 60AA-025.94 đi đến trước địa chỉ: 257, Khu phố N, thị trấn T, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh thì bị Lực lượng Công an kiểm tra phát hiện, bắt quả tang thu giữ 1,3910 gam ma túy ở thể rắn, loại Ketamine. Tiến hành khám xét khấn cấp nơi ở của Q và P, thu giữ của P 04 gói nylon chứa tinh thể không màu là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 6,6547 gam, loại Ketamine; 01 viên nén màu xám là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,4511 gam, loại Ketamine; 04 gói nylon chứa bột màu vàng là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 4,6612 gam, loại Methamphetamine, MDMA, Nimetazepam và 02 viên nén màu xanh, 05 viên nén màu tím có tổng khối lượng lần lượt là 0,6917 gam và 2,3030 gam, không tìm thấy ma túy, mà P và Q khai nhận cất giấu để nhằm bán lại cho người khác.

Tổng khối lượng các chất ma túy thu giữ của các bị cáo, qua giám định là 8,4968 gam (loại Ketamine) và 4,6612 gam (loại Methamphetamine, MDMA, Nimetazepam). Do không tách được hàm lượng, khối lượng chất Nimetazepam trong 4,6612 gam ma túy (loại Methamphetamine, MDMA, Nimetazepam) nên không đủ cơ sở để tính tổng tỷ lệ phần trăm về khối lượng của các chất ma túy thu giữ của các bị cáo để xử lý các bị cáo theo quy định tại điểm p khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến chính sách quản lý và sử dụng chất ma túy của Nhà nước. Khi thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy, các bị cáo đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, có khả năng nhận thức và điều khiển được hành vi của mình nhưng vì tham lam vụ lợi nên bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội.

Các bị cáo Cao Hồng P và Nguyễn Thanh Q đã cùng nhau hoạt động mua bán trái chất ma túy trước ngày bị bắt quả tang (20/8/2023) được khoảng 02 tuần. Trong đó, bị cáo P là người giữ vai trò chủ mưu, điều hành mọi hoạt động mua bán trái phép chất ma túy, còn bị cáo Q giữ vai trò giúp sức cho bị cáo P; các bị cáo có sự bàn bạc, cấu kết chặt chẽ, thống nhất phân công vai trò nhiệm vụ từ khi mới cùng nhau hoạt động mua bán trái phép chất ma túy như sau: P là người bỏ tiền ra mua ma túy về cất giấu trong khách sạn Hoàng Gia chờ bán lại trái phép cho người khác. P phụ trách liên hệ với người mua ma túy, khi có người liên lạc hỏi mua ma túy thì P thỏa thuận giá cả, địa điểm giao ma túy với người mua ma túy rồi kêu Q mang ma túy đến điểm giao dịch giao ma túy cho người mua rồi thu tiền về giao cho P; tiền lời thu được từ việc bán ma túy sẽ dùng trả tiền thuê phòng khách sạn và chia nhau tiêu xài và Q đã đi bán ma túy cho P được 06 lần cho nhiều người khác nhau. Khi hết ma túy bán cho khách thì P điện thoại liên lạc hỏi mua ma túy của Đ và tự mình hoặc kêu Q đến chỗ Đ để lấy ma túy mang về Phòng 16 Lầu 3, khách sạn Hoàng Gia đưa cho P cất giữ chờ bán lại cho người khác kiếm lời.

Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận các bị cáo Cao Hồng P, Nguyễn Thanh Q phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” với tình tiết định khung tăng nặng “Có tổ chức”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố các bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” là đúng người, đúng tội. Tuy nhiên, Cáo trạng của Viện kiểm sát chỉ truy tố các bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 là không tương xứng với hành vi, tính chất mức độ phạm tội của các bị cáo như đã phân tích ở trên.

Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh đã trả hồ sơ để yêu cầu điều tra bổ sung, yêu cầu Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh truy tố các bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” với tình tiết định khung tăng nặng “Có tổ chức”, theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 nhưng Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố. Do đó, căn cứ vào Điều 298 của Bộ luật tố tụng hình sự, Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh quyết định đưa các bị cáo ra xét xử về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xét hành vi phạm tội của các bị cáo không chỉ trực tiếp xâm phạm đến chính sách quản lý và sử dụng chất ma túy của Nhà nước mà còn ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Do đó, Hội đồng xét xử thấy cần phải áp dụng hình phạt nghiêm, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội trong một thời gian nhất định, đồng thời phạt bổ sung các bị cáo một khoản tiền để răn đe, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

Tuy nhiên, xét thấy tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử có xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo.

Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về xử lý vật chứng, đồ vật thu giữ:

+ Đối với: 01 gói nylon màu vàng có chữ “CHALI” chứa bột màu tím, qua giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 1,3910 gam, loại Ketamine (khối lượng còn lại sau khi giám định là 1,0112 gam); 02 viên nén màu tím có tổng khối lượng 0,9539 gam (khối lượng còn lại sau khi giám định là 0,4787 gam), không tìm thấy ma túy; 01 gói nylon, qua giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng là 1,2781 gam, loại Ketamine (khối lượng còn lại sau khi giám định là 1,1495 gam); 01 gói nylon, qua giám định là ma túy ở thể rắn có khối lượng là 1,7605 gam, loại Katemine (khối lượng còn lại sau khi giám định là 1,5638 gam); 01 gói nylon, qua giám định là ma túy ở thể rắn có khối lượng là 1,8530 gam (khối lượng còn lại sau khi giám định là 1,6757 gam); 01 gói nylon, qua giám định là ma túy ở thể rắn có khối lượng là 1,7631 gam, loại Katemine (khối lượng còn lại sau khi giám định là 1,6072 gam); 01 viên nén màu xám, qua giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,4511 gam (khối lượng còn lại sau khi giám định là 0,2564 gam), loại Ketamine; 02 viên nén màu xanh có tổng khối lượng là 0,6917 gam (khối lượng còn lại sau khi giám định là 0,6917 gam) không tìm thấy ma túy; 05 viên nén màu tím có tổng khối lượng lần lượt là 2,3030 gam (khối lượng còn lại sau khi giám định là 1,8580 gam), không tìm thấy ma túy; 04 gói nylon màu cam trắng có chữ CAMELLIA bên trong có chứa chất bột màu vàng qua giám định đều là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 4,6612 gam (khối lượng còn lại sau khi giám định là 4,0985 gam), loại Methamphetamine, MDMA, Nimetazepam; 01 hộp nhựa màu xanh có chữ “Bé Su”; 01 túi giấy màu nâu, bên trong có: 01 cân điện tử, 01 đoạn ống hút nhựa màu xanh cắt nhọn một đầu, 10 gói nylon rỗng, 01 quẹt ga. Xét đây là vật cấm tàng trữ, lưu hành và không có giá trị sử dụng nên tịch thu và tiêu hủy.

+ Đối với: 01 điện thoại di động hiệu Nokia cùng 01 sim số thuê bao 0372731882 thu giữ của bị cáo Q và 01 điện thoại di động hiệu Iphone cùng 01 sim số thuê bao 0903704034 thu giữ của bị cáo P, sử dụng vào việc mua bán trái phép chất ma túy nên tịch thu nộp ngân sách nhà nước.

+ Đối với: 01 xe mô tô biển số 60AA-025.94, số khung: RNGKCB3NGC1023503, số máy: VZS139FMB. Qua xác minh do bà Ngô Thị H đứng tên giấy đăng ký xe, do bà H không có mặt ở địa phương nên Cơ quan điều tra chưa lấy được lời khai của bà H. Bị cáo Q trình bày mượn xe trên của người phụ nữ tên Trang (không rõ lai lịch) để làm phương tiện đi lại. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã đăng báo tìm chủ sở hữu nhưng đến nay vẫn chưa có ai liên hệ. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần giao Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh cho đăng tải trên các phương tiện thông tin đại chúng trong thời hạn 06 (sáu) tháng để tìm chủ sở hữu hợp pháp đối với xe mô tô trên. Trong hạn trên ai xuất trình đầy đủ các tài liệu chứng minh chủ sở hữu thì trả lại. Quá thời hạn trên không ai đến nhận thì tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước.

- Đối với 01 đĩa DVD chứa dữ liệu ghi hình có âm thanh lời khai Cao Hồng P và Nguyễn Thanh Q chuyển cùng hồ sơ vụ án nên lưu giữ hồ sơ vụ án.

Về án phí: Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Đối với việc các bị cáo khai nhận đã bán ma túy cho nhiều người khác được 06 lần nhưng do không xác định được thời gian, địa điểm bán ma túy, khối lượng, loại ma túy, đối tượng mua ma túy của các bị cáo nên Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát không đủ cơ sở để truy tố các bị cáo về hành vi “Mua bán trái phép chất ma túy” với tình tiết định khung tăng nặng “Phạm tội 02 lần trở lên” và “Đối với 02 người trở lên” theo quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có cơ sở.

Đối với người đàn ông tên “Đ” đã bán ma túy cho P 04 lần và người đàn ông tên H mua ma túy của các bị cáo, do không xác định được nhân thân lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Chánh đang tiếp tục truy xét, khi nào bắt được sẽ xử lý sau.

Đối với bà Phan Thị Hồng O và bà Phan Thị Hồng H (là chủ và quản lý khách sạn Hoàng Gia) không biết các bị cáo thuê khách sạn Hoàng Gia để cất giấu ma túy và hoạt động mua bán trái phép chất ma túy nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Chánh không xử lý đối với bà Oanh, bà Hạnh là có cơ sở.

Từ những nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử chấp nhận một phần quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát đề nghị về tội danh đối với các bị cáo cũng như đề nghị xử lý vật chứng vụ án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

* Căn cứ vào điểm a khoản 2, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 298 của Bộ luật tố tụng hình sự đối với bị cáo Cao Hồng P:

- Xử phạt bị cáo Cao Hồng P 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 22/8/2023.

- Phạt bổ sung bị cáo Cao Hồng P số tiền 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng để nộp Ngân sách nhà nước.

* Căn cứ vào điểm a khoản 2, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 298 của Bộ luật tố tụng hình sự đối với bị cáo Nguyễn Thanh Q:

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh Q 07 (bảy) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 20/8/2023.

- Phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Thanh Q số tiền 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng để nộp Ngân sách nhà nước.

* Căn cứ vào Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017:

- Tịch thu và tiêu hủy: 01 (một) gói nylon màu vàng có chữ “CHALI” chứa bột màu tím, qua giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 1,3910 gam, loại Ketamine (khối lượng còn lại sau khi giám định là 1,0112 gam); 02 (hai) viên nén màu tím có tổng khối lượng 0,9539 gam (khối lượng còn lại sau khi giám định là 0,4787 gam), không tìm thấy ma túy; 01 (một) gói nylon, qua giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng là 1,2781 gam, loại Ketamine (khối lượng còn lại sau khi giám định là 1,1495 gam); 01 (một) gói nylon, qua giám định là ma túy ở thể rắn có khối lượng là 1,7605 gam, loại Katemine (khối lượng còn lại sau khi giám định là 1,5638 gam); 01 (một) gói nylon, qua giám định là ma túy ở thể rắn có khối lượng là 1,8530 gam (khối lượng còn lại sau khi giám định là 1,6757 gam); 01 (một) gói nylon, qua giám định là ma túy ở thể rắn có khối lượng là 1,7631 gam, loại Katemine (khối lượng còn lại sau khi giám định là 1,6072 gam); 01 (một) viên nén màu xám, qua giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,4511 gam (khối lượng còn lại sau khi giám định là 0,2564 gam), loại Ketamine; 02 (hai) viên nén màu xanh có tổng khối lượng là 0,6917 gam (khối lượng còn lại sau khi giám định là 0,6917 gam) không tìm thấy ma túy; 05 (năm) viên nén màu tím có tổng khối lượng lần lượt là 2,3030 gam (khối lượng còn lại sau khi giám định là 1,8580 gam), không tìm thấy ma túy; 04 (bốn) gói nylon màu cam trắng có chữ CAMELLIA bên trong có chứa chất bột màu vàng qua giám định đều là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 4,6612 gam (khối lượng còn lại sau khi giám định là 4,0985 gam), loại Methamphetamine, MDMA, Nimetazepam; 01 (một) hộp nhựa màu xanh có chữ “Bé Su”; 01 (một) túi giấy màu nâu, bên trong có: 01 (một) cân điện tử, 01 (một) đoạn ống hút nhựa màu xanh cắt nhọn một đầu, 10 (mười) gói nylon rỗng, 01 (một) quẹt ga.

- Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia cùng 01 (một) sim số thuê bao 0372731882 thu giữ của bị cáo Q và 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone cùng 01 (một) sim số thuê bao 0903704034 thu giữ của bị cáo P.

- Giao Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh cho đăng tải trên các phương tiện thông tin đại chúng trong thời hạn 06 (sáu) tháng để tìm chủ sở hữu hợp pháp đối với chiếc xe mô tô biển số 60AA-025.94, số khung: RNGKCB3NGC1023503, số máy: VZS139FMB. Trong hạn trên ai xuất trình đầy đủ các tài liệu chứng minh chủ sở hữu thì trả lại. Quá thời hạn trên không ai đến nhận thì tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước.

(tất cả vật chứng, đồ vật trên Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh đang tạm giữ theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 21/11/2023 giữa Công an huyện Bình Chánh và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh)

- Lưu giữ hồ sơ vụ án 01 (một) đĩa DVD chứa dữ liệu ghi hình có âm thanh lời khai Cao Hồng P và Nguyễn Thanh Q.

* Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

* Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ