vanban.org

Bản án 35/2024/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai Tuyên án 28/06/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về vật chứng của vụ án: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên tịch thu tiêu hủy 0,379 gam Heroine được đựng trong các túi đựng mẫu ký hiệu M1, M2, M3, M4 cùng 01 mảnh nilon màu trắng, 03 mảnh nilon màu xanh, 01 …

Toàn bộ vật chứng trên đã được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai bàn giao cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 31/5/2024. Về án phí: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phàng A D - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về vật chứng của vụ án: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên tịch thu tiêu hủy 0,379 gam Heroine được đựng trong các túi đựng mẫu ký hiệu M1, M2, M3, M4 cùng 01 mảnh nilon màu trắng, 03 mảnh nilon màu xanh, 01 …
  • Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật hình sự tuyên bố; Điều 38 Bộ luật hình sự tuyên bố
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BÁT XÁT

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH LÀO CAI
Bản án số: 35/2024/HS-ST
Ngày 28 - 6 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÁT XÁT - TỈNH LÀO CAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Thu Hằng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Đằng và bà Hoa Thị Vân

- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thu Hà - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai tham gia phiên toà: Ông Nông Văn Nghiệp - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 30/2024/TLST-HS ngày 03 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 31/2023/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:

Phàng A D (tên gọi khác: Không); Giới tính: Nam

Sinh ngày 01 tháng 01 năm 1974, tại huyện B, tỉnh Lào Cai

Nơi cư trú: Thôn T, xã D, huyện B, tỉnh Lào Cai

Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa (học vấn): Không biết chữ; Dân tộc: Mông; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không

Con ông: Phàng Páo C (đã chết); Con bà Giàng Thị S (đã chết); Bị cáo có vợ là Vàng Thị M, sinh năm 1974 hiện cư trú tại thôn T, xã D, huyện B, tỉnh Lào Cai; Bị cáo có 05 con, con lớn nhất sinh năm 2004, con nhỏ nhất sinh năm 2012.

Tiền án, tiền sự: Không

Nhân thân: Bị cáo là đối tượng thường xuyên sử dụng chất ma túy.

`

Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 15/5/2024, tạm giam ngày 21/5/2024. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai. Có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Trần Thị Chinh - Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Lào Cai. Có mặt.

- Người chứng kiến: Anh Vùi Văn T

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ ngày 14/5/2024, Phàng A D đang đi ở khu vực thôn T, xã D, huyện B, tỉnh Lào Cai thì gặp và mua của một người phụ nữ không quen biết được 01 gói ma tuý được gói bằng nilon màu trắng, bên trong có 03 gói nilon màu xanh và 01 gói nilon màu đen, bên trong cả 04 gói đều chứa chất bột khô, màu trắng, vón cục với giá 200.000 đồng để sử dụng cho bản thân. Phàng A D cất gói ma tuý vừa mua được vào túi áo ngực bên phải đang mặc rồi đi về, về đến nhà Phàng A D lấy gói ma tuý cất vào trong túi đeo làm bằng bao tải xác rắn màu trắng đục treo ở cửa phòng ngủ. Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 15/5/2024, Phàng A D đeo chiếc túi có chứa ma tuý và đi bộ xuống Trạm y tế xã M, huyện B, tỉnh Lào Cai. Khoảng 08 giờ 30 phút cùng ngày Phàng A D đi đến đường rẽ vào Trạm y tế, thuộc thôn M, xã M, huyện B, tỉnh Lào Cai thì bị tổ công tác Công an xã M kiểm tra, Phàng A D tự giác lấy từ túi đang đeo trên người ra 01 gói nilon màu trắng bên trong có 03 gói nilon màu xanh và 01 gói nilon màu đen, bên trong cả 04 gói đều chứa chất bột khô, màu trắng, vón cục và khai nhận là Heroine mục đích dùng để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã mời người chứng kiến đến, đưa Phàng A D và tang vật về trụ sở Công an xã M, huyện B, tỉnh Lào Cai tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang thu giữ, niêm phong tang vật theo quy định.

Tại bản kết luận giám định số 205/KL-GĐMT ngày 20/5/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai kết luận: Tổng 0,576 gam chất bột khô, màu trắng, vón cục thu giữ của Phàng A D đều là loại chất ma túy Heroine (Heroin).

Tại cáo trạng số 27/CT-VKSBX ngày 31/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai truy tố bị cáo Phàng A D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

Bị cáo Phàng A D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung vụ án đã tóm tắt ở trên và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai trình bày lời luận tội và tranh luận: Giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Phàng A D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phàng A D từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Về vật chứng: Đề nghị áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên tịch thu tiêu hủy 0,379 gam Heroine còn lại sau trích mẫu giám định, 01 mảnh nilon màu trắng, 03 mảnh nilon màu xanh, 01 mảnh nilon màu đen cùng bì niêm phong ban đầu gửi giám định đã được tái niêm phong theo quy định và 01 túi đeo làm bằng bao tải xác rắn màu trắng đục đã qua sử dụng. Về án phí: Gia đình bị cáo thuộc hộ nghèo, đề nghị Hội đồng xét xử miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo, ngoài ra đề nghị Hội đồng xét xử tuyên quyền kháng cáo cho bị cáo theo quy định của pháp luật.

Người bào chữa cho bị cáo Phàng A D trình bày quan điểm: Nhất trí với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai về tội danh và điều luật áp dụng đối với bị cáo. Về mức hình phạt, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự xử cho bị cáo được hưởng mức thấp nhất của khung hình phạt là 01 năm tù, không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo; Về vật chứng của vụ án đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật; Về án phí bị cáo thuộc hộ nghèo đã có đơn xin miễn án phí hình sự sơ thẩm, đề nghị miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử:

Xét thấy trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp, đúng với quy định của pháp luật.

. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Phàng A D khai nhận bản thân là người nghiện chất ma túy nên ngày 14/5/2024 bị cáo đã mua 01 gói ma túy bên trong có 04 gói nhỏ với giá 200.000 đồng của một người phụ nữ không quen biết ở khu vực thôn T, xã D, huyện B, tỉnh Lào Cai với mục đích sử dụng cho bản thân, sau khi mua được ma túy bị cáo cất giấu vào túi áo ngực bên phải đang mặc rồi đi về nhà, về đến nhà bị cáo cất giấu ma túy vào túi đeo làm bằng bao tải xác rắn treo ở cửa phòng ngủ. Sáng ngày 15/5/2024 bị cáo đeo túi có chứa ma túy đi bộ xuống Trạm y tế xã M, huyện B, tỉnh Lào Cai thì bị phát hiện bắt quả tang. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của người chứng kiến và các tài liệu chứng cứ khác đã có trong hồ sơ. Như vậy có đủ cơ sở để khẳng định bản cáo trạng số 27/CT-VKSBX ngày 31/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai truy tố bị cáo Phàng A D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự và hiểu biết pháp luật. Bản thân bị cáo là người nghiện chất ma túy nên bị cáo hiểu rất rõ Nhà nước ta nghiêm cấm mọi hành vi “Mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy”. Mọi hành vi, vi phạm đều phải được xử lý thật nghiêm minh trước pháp luật. Hiểu rất rõ điều đó song do không chịu tu dưỡng rèn luyện bản thân nên bị cáo đã nghiện chất ma túy, để có ma túy sử dụng cho bản thân bị cáo đã tàng trữ 0,576 gam Heroine. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, gây mất trật tự trị an trên địa bàn, gây ảnh hưởng xấu trong dư luận quần chúng nhân dân. Vì vậy đối với bị cáo cũng cần phải có một mức án nghiêm khắc để cải tạo giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

. Về nhân thân của bị cáo: Bị cáo là đối tượng có nhân thân xấu thường xuyên sử dụng chất ma túy.

. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Hội đồng xét xử xét thấy, sau khi bị bắt và tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên cũng cần áp dụng cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

. Về các vấn đề liên quan trong vụ án: Liên quan trong vụ án này còn có người phụ nữ, theo bị cáo khai là người đã bán ma túy cho bị cáo ở khu vực thôn T, xã D, huyện B, tỉnh Lào Cai. Quá trình điều tra, do không xác định được lai lịch, địa chỉ cụ thể của người này, nên cơ quan điều tra và Viện kiểm sát không đề cập xử lý.

. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là người nghiện chất ma túy, không có việc làm ổn định, gia đình thuộc hộ nghèo do đó không cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

. Về vật chứng của vụ án: Cơ quan điều tra đã thu giữ của bị cáo 01 gói ma túy, bên trong 04 gói nhỏ, tổng khối lượng là 0,576 gam Heroine đã trích mẫu 0,197 gam Heroine để giám định không hoàn lại, còn lại 0,379 gam Heroine cùng 01 mảnh nilon màu trắng, 03 mảnh nilon màu xanh, 01 mảnh nilon màu đen cùng bì niêm phong ban đầu gửi giám định đã được tái niêm phong hoàn lại cơ quan trưng cầu theo quy định và 01 túi đeo bằng bao tải xác rắn màu trắng đục đã qua sử dụng, xét thấy chất ma túy là vật cấm lưu hành nên cần tuyên tịch thu tiêu hủy. Đối với 01 mảnh nilon màu trắng, 03 mảnh nilon màu xanh, 01 mảnh nilon màu đen cùng bì niêm phong ban đầu gửi giám định và 01 túi đeo bằng bao tải xác rắn màu trắng đục đã qua sử dụng không có giá trị sử dụng nên cần tuyên tịch thu tiêu hủy.

. Về án phí: Bị cáo có đơn xin miễn nộp tiền án phí, căn cứ Giấy chứng nhận hộ nghèo số 01/GCN-HN.HCN ngày 27/12/2023 do UBND xã D, huyện B, tỉnh Lào Cai xác nhận hộ gia đình Phàng A D là hộ nghèo, vì vậy căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội miễn tiền án phí Hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

. Về đề nghị của người bào chữa cho bị cáo: Xét đề nghị của người bào chữa cho bị cáo về mức hình phạt đối với bị cáo chưa đánh giá đúng tính chất, mức độ, hành vi của bị cáo do đó không được chấp nhận. Tại phiên tòa bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, Hội đồng xét xử cân nhắc xem xét để có một mức án phù hợp với hành vi phạm tội của bị cáo.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự tuyên bố bị cáo Phàng A D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Phàng A D 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 15/5/2024.

Về vật chứng của vụ án: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên tịch thu tiêu hủy 0,379 gam Heroine được đựng trong các túi đựng mẫu ký hiệu M1, M2, M3, M4 cùng 01 mảnh nilon màu trắng, 03 mảnh nilon màu xanh, 01 mảnh nilon màu đen cùng bì niêm phong ban đầu gửi giám định tất cả được đựng trong 01 bì thư in sẵn của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai. Tại mép dán của bì niêm phong mới này có chữ ký ghi rõ họ tên của các bên tham gia; 01 dấu điểm chỉ có ghi “Điểm chỉ ngón trỏ phải của Phàng A D” 02 hình dấu tròn màu đỏ thu nhỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai và được dán phủ bằng lớp băng dính trong suốt. Mặt còn lại của bì niêm phong có ghi dòng chữ “Vật chứng còn lại sau trích mẫu giám định thu giữ khi bắt quả tang Phàng A D tại thôn M, xã M, huyện B, tỉnh Lào Cai ngày 15/5/2024” và 01 túi đeo làm bằng bao tải xác rắn màu trắng đục đã qua sử dụng.

Toàn bộ vật chứng trên đã được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai bàn giao cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 31/5/2024.

Về án phí: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu phí, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Phàng A D được miễn nộp 200.000 đồng tiền án phí Hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án.

Cỡ chữ