- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn giữa chị T và anh H"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Xử cho ly hôn giữa chị Đặng Thị T và anh Nguyễn Văn H.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƢNG HÀ TỈNH THÁI BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 35/2024/HNGĐ-ST Ngày: 03-6-2024 V/v: Ly hôn giữa chị Tuyết, anh Hải. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƢNG HÀ - TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần hội đồng xét xử gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Quang Trác.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Tống Xuân Tú
2. Bà Cao Thị Lan
- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Mai - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Hà Giang - Kiểm sát viên Ngày 03 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 333/2023/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 11 năm 2023 về tranh chấp “Ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 25/2024/QĐXX-ST ngày 15 tháng 4 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 09/2024/QĐST-HNGĐ ngày 14 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Chị Đặng Thị T, sinh năm 1982
Địa chỉ: Thôn K, xã P, huyện H, tỉnh Thái Bình
Nơi ở hiện nay: Thôn L, xã T, huyện H, tỉnh Thái Bình
* Bị đơn: Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1974
Địa chỉ: Thôn K, xã P, huyện H, tỉnh Thái Bình
(Chị T có mặt, anh H vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Đặng Thị T trình bày:
Chị và anh H kết hôn do tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào ngày 26/12/2017 tại UBND xã P, huyện H, sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh H thường xuyên đánh đập, chửi bới chị; đến năm 2022 do không thể hòa giải được mâu thuẫn nên vợ chồng đã sống ly thân, không còn quan tâm đến nhau; nay xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị xin được ly hôn với anh H. Về con chung: Chị và anh H có 01 con chung là cháu Nguyễn Hoàng L, sinh ngày 11/12/2017, ly hôn chị xin nhận nuôi con và không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung: Chị và anh H không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trong biên bản lấy lời khai ngày 27/3/2024, bị đơn anh Nguyễn Văn H trình bày:
Anh và chị T kết hôn do tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào ngày 26/12/2017 tại UBND xã P, huyện H; sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hòa thuận đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn; chị T đã tự ý bỏ nhà đi nhiều lần; vợ chồng mâu thuẫn trầm trọng và sống ly thân từ tháng 6/2023 đến nay; nay anh xác định tình cảm vợ chồng cũng không còn, anh nhất trí ly hôn với chị T. Về con chung: Anh và chị T có 01 con chung là cháu Nguyễn Hoàng L, sinh ngày 11/12/2017, ly hôn anh đồng ý để chị T trực tiếp nuôi con và anh không cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung: Anh và chị T không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà phát biểu ý kiến: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Toà án kể từ khi thụ lý đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Về việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, nguyên đơn đã thực hiện quyền và nghĩa vụ đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự; bị đơn chưa thực hiện quyền và nghĩa vụ đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147; khoản 2 Điều 227; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Về hôn nhân: Xử cho chị Đặng Thị T được ly hôn anh Nguyễn Văn H; về nuôi con chung: Giao con Nguyễn Hoàng L, sinh ngày 11/12/2017 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi, anh H có quyền thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Về tài sản chung: Không đặt ra giải quyết. Chị T phải chịu tiền án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Đặng Thị T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, nuôi con chung với anh Nguyễn Văn H. Vì vậy, quan hệ pháp luật tranh chấp giữa các bên được xác định là “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung”. Anh Hải đăng k nhân khẩu tại thôn K, xã P, huyện H, tỉnh Thái Bình nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự; anh H vắng mặt lần thứ hai không có lý do; Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt anh H là đúng với khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về hôn nhân: Chị T, anh H kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã P, huyện H, tỉnh Thái Bình vào ngày 26-12-2017 là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hòa thuận đến năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm, không có sự yêu thương nhau dẫn đến vợ chồng không có hạnh phúc. Chị T xác định tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn; anh H cũng nhất trí ly hôn và không đến Tòa án làm việc, không nhận bất kỳ văn bản tố tụng của Tòa án, trình bày ý kiến nhưng không ký vào biên bản ghi lời khai. Hội đồng xét xử thấy: Vợ chồng chị T, anh H mâu thuẫn đã trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần xử cho chị T được ly hôn anh H là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
Về nuôi con chung: Chị T, anh H có 01 con chung là Nguyễn Hoàng L, sinh ngày 11/12/2017; chị T có nguyện vọng nuôi con và không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con, anh H cũng nhất trí để chị T nuôi con; xét yêu cầu xin nuôi con của chị T thấy rằng: Hiện nay con chung đang sinh sống ổn định cùng chị T; anh H cũng nhất trí để chị T trực tiếp nuôi con chung; vì vậy để đảm bảo quyền lợi của con chung, cần giao con Nguyễn Hoàng L cho chị T trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng là phù hợp pháp luật, anh H có quyền thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Việc thay đổi người nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con được đặt ra giải quyết khi có yêu cầu.
Về chia tài sản: Chị T, anh H không yêu cầu giải quyết tài sản chung nên HĐXX không xem xét, giải quyết.
Về án phí: Chị T phải chịu tiền án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Từ các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147; khoản 2 Điều 227; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Xử cho ly hôn giữa chị Đặng Thị T và anh Nguyễn Văn H.
2. Về nuôi con chung: Giao con Nguyễn Hoàng L, sinh ngày 11/12/2017 cho chị T trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng đến khi con chung đủ 18 tuổi, anh H không phải cấp dưỡng nuôi con, anh H có quyền thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Việc thay đổi người nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con được đặt ra giải quyết khi có yêu cầu.
3. Về án phí: Chị Đặng Thị T phải chịu 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000 đồng chị T đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền số 0003543 ngày 20-11-2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình (chị T đã nộp đủ tiền án phí).
4. Quyền kháng cáo: Chị T có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên anh; anh H có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Thái Bình; - VKSND huyện Hưng Hà; - Chi cục THADS huyện Hưng Hà; - Các đương sự; - UBND xã Phúc Khánh, huyện Hưng Hà; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Quang Trác |