- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp ly hôn, nuôi con"
- Tòa quyết gì? Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ L TỈNH BÌNH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 35/2024/DS-ST Ngày: 05-7-2024 “V/v Tranh chấp ly hôn, nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ L, TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đào Thị Yến Nhi
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Ngọc Thơm – Bà Lương Thị Thạnh
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Song Yến – Thư ký Tòa án nhân thị xã L.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã L: Bà Nguyễn Thị Ngọc – Kiểm sát viên tham gia phiên toà.
Ngày 05 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã L, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 53/2024/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 02 năm 2024, về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 25/2024/QĐST-HNGĐ ngày 24 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 26/2024/QĐST-HNGĐ ngày 11 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Đan C, sinh năm: 1985. Có mặt
Địa chỉ: Khu phố 3, phường B, thị xã L, tỉnh Bình Thuận
- Bị đơn: Ông Bùi T, sinh năm: 1984. Vắng mặt
Địa chỉ: Khu phố 3, phường B, thị xã L, tỉnh Bình Thuận
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 18 tháng 12 năm 2023 và trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Đan C trình bày: Bà và ông T đăng ký kết hôn năm 2011 tại Ủy ban nhân dân phường B. Trong quá trình chung sống bà và ông T phát sinh nhiều mâu thuẫn. Ông T cờ bạc, phá tán tài sản gia đình. Bà đã cho ông nhiều cơ hội để sửa đổi nhưng ông vẫn không thay đổi. Từ đầu năm 2022, bà và ông T không còn sống chung. Tháng 12/2023, bà có nộp đơn khởi kiện yêu cầu được ly hôn với ông T, tuy nhiên, sau đó bà đã rút đơn khởi kiện với mong muốn vợ chồng hàn gắn tình cảm để cùng nhau nuôi dạy con cái, nhưng ông T vẫn không thay đổi. Từ tháng 12/2023 đến nay vợ chồng không gặp nhau và ông T cũng không đến thăm con. Hiện nay, bà không còn tình cảm với ông T nữa, do đó bà yêu cầu được ly hôn với ông T.
Về con chung: Bà và ông T có một con chung là Bùi Gia B, sinh ngày 01/7/2023. Bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn ông Bùi T trình bày: Quá trình giải quyết, bị đơn đều vắng mặt không rõ lý do. Tại biên bản xác minh nơi cư trú, địa phương cung cấp, ông Bùi T vẫn còn sinh sống tại địa phương nhưng không hợp tác, Tòa án không thể tiến hành tống đạt văn bản tố tụng trực tiếp cho ông T được. Tòa án đã thực hiện thủ tục cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng (thông báo thụ lý, thời gian làm việc, công khai chứng cứ và hòa giải cũng như thời gian vụ án được đưa ra xét xử) cho bị đơn theo quy định, nhưng bị đơn không có mặt và không có văn bản trình bày ý kiến theo yêu cầu của Tòa án. Tại phiên tòa, bị đơn vắng mặt, không có lý do.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã L:
- Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật kể từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử sơ thẩm: Thẩm phán đã chấp hành đúng các quy định tại Điều 48 Bộ luật tố tụng dân sự. Thẩm quyền thụ lý vụ án, xác định quan hệ pháp luật tranh chấp, xác định tư cách pháp lý và mối quan hệ giữa những người tham gia tố tụng, thu thập chứng cứ, thời hạn gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu, cấp tống đạt văn bản tố tụng cho người tham gia tố tụng là có căn cứ, phù hợp quy định pháp luật; Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử và Thư ký thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm; Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện đúng theo quy định.
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà C, bà Nguyễn Thị Đan C được ly hôn với ông Bùi T; Giao con chung Bùi Gia B cho bà C trực tiếp nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng, tài sản chung, nợ chung không xem xét giải quyết. Đương sự phải chịu án phí theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của các bên đương sự, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã L tham gia phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:
Bà Nguyễn Thị Đan C khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Bùi T, và yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng con chung, nên quan hệ tranh chấp trong vụ án là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Bị đơn ông Bùi T có nơi cư trú tại khu phố 7, phường B, thị xã L nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã L theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. Ông Bùi T đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa, do đó, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt ông T theo quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án:
Về hôn nhân: Bà C và ông T đăng ký kết hôn năm 2011 tại Uỷ ban nhân dân phường B, thị xã L trên cơ sở tự nguyện. Đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp và được pháp luật bảo vệ.
Bà C trình bày trong quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, bất đồng về quan điểm sống, ông T thường xuyên nhậu nhẹt, chửi mắng và đánh đập bà. Tại phiên tòa, bà C khẳng định không còn tình cảm với ông T nữa và kiên quyết yêu cầu ly hôn với ông T.
Theo biên bản xác minh tại địa phương thể hiện, địa phương không nhận được đơn trình báo đề nghị hòa giải mâu thuẫn vợ chồng giữa ông T và Bà C, tuy nhiên, thực tế thì ông T có cờ bạc, không lo làm ăn. Bà C đã dẫn theo con bỏ đi, không còn sinh sống với ông T nữa.
Quá trình giải quyết, Tòa án đã nhiều lần triệu tập ông T để tiến hành hòa giải, nhưng ông T vắng mặt. Những căn cứ nêu trên thể hiện mâu thuẫn vợ chồng giữa Bà C và ông T thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử nhận thấy cần phải chấp nhận cho Bà C được ly hôn với ông T.
Về con chung: Ông T và Bà C có một con chung là cháu Bùi Gia Bảo, sinh ngày 1/7/2013. Bà C yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng con chung.
Tại biên bản xác minh địa phương thể hiện Bà C có nghề nghiệp kinh doanh, buôn bán, Bà C có nơi cư trú, thu nhập ổn định, ông T không có nghề nghiệp. Tại phiên tòa, ông T vắng mặt nên không trình bày ý kiến về vấn đề con chung. Tại bản tự khai, cháu Bùi Gia B trình bày nguyện vọng muốn sống cùng với mẹ. Xét thấy, hiện nay, cháu B đang sống cùng bà C, và đang học tập tại trường Tiểu học thuộc phường P, do đó, cần giao cho bà C trực tiếp nuôi dưỡng con chung để tránh làm xáo trộn cuộc sống và tâm sinh lý của cháu, đồng thời cũng đảm bảo sự ổn định về nơi sinh sống, học tập của con chung. Việc giao con chung cho bà C trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với Điều 81 Luật Hôn nhân gia đình và đảm bảo được sự phát triển mọi mặt của con chưa thành niên.
Về cấp dưỡng nuôi con: Quá trình giải quyết, mặc dù đã được Tòa án giải thích về việc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con là nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của con nhưng bà C tự nguyện không yêu cầu ông Bùi T cấp dưỡng nuôi con. Đồng thời, xét thấy, bà C có nghề nghiệp ổn định, có khả năng và điều kiện nuôi dưỡng con chung. Do vậy, Hội đồng xét xử không buộc ông Bùi T phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không giải quyết.
Về án phí, nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm
theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng:
- Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
- Điều 19, 51, 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình;
- Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Đan C đối với ông Bùi T về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”.
1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Đan C được ly hôn với ông Bùi T.
2. Về con chung: Bà Nguyễn Thị Đan C được trực tiếp nuôi dưỡng con chung Bùi Gia B, sinh ngày 01/7/2013. Ông Bùi T không phải cấp dưỡng nuôi con.
Ông Bùi T được quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung không ai được cản trở. Vì quyền lợi của con chung, các đương sự đều có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn theo quy định của pháp luật.
3. Tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
4. Án phí: Bà Nguyễn Thị Đan C phải nộp 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai số 0011330 ngày 22/02/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã L. Bà C đã nộp đủ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được hoặc niêm yết công khai bản án.
Trường hợp bản án được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Thuận; - VKSND thị xã L; - Chi cục THADS thị xã L; - Các đương sự; - UBND phường B; - Lưu hồ sơ. PHIẾU ĐỀ XUẤT 11/6/2024. Quan hệ pháp luật: “ Ly hôn, tranh chấp nuôi con” 1/ Đương sự: - Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Đan C, sinh năm: 1985 Địa chỉ: Khu phố 3, phường B, thị xã L, tỉnh Bình Thuận - Bị đơn: Ông Bùi T, sinh năm: 1984 Địa chỉ: Khu phố 3, phường B, thị xã L, tỉnh Bình Thuận 2/ Nội dung vụ án: Trong quá trình chung sống bà và ông T phát sinh nhiều mâu thuẫn. Ông T cờ bạc, phá tán tài sản gia đình. Bà đã cho ông nhiều cơ hội để sửa đổi nhưng ông vẫn không thay đỗi. Từ đầu năm 2022, bà và ông T không còn sống chung. Tháng 12/2023, bà có nộp đơn khởi kiện yêu cầu được ly hôn với ông T, tuy nhiên, sau đó bà đã rút đơn khởi kiện với mong muốn vợ chồng hàn gắn tình cảm để cùng nhau nuôi dạy con cái, nhưng ông T vẫn không thay đổi. Từ tháng 12/2023 đến nay vợ chồng không gặp nhau và ông T cũng không đến thăm con. Hiện nay, bà không còn tình cảm với ông T nữa, do đó bà yêu cầu được ly hôn với ông T. 01/7/2023. Bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết. không rõ lý do. Tại biên bản xác minh nơi cư trú, địa phương cung cấp, ông Bùi T vẫn còn sinh sống tại địa phương nhưng không hợp tác, Tòa án không thể tiến hành tống đạt văn bản tố tụng trực tiếp cho ông T được. Tòa án đã thực hiện thủ tục cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng (thông báo thụ lý, thời gian làm việc, công khai chứng cứ và hòa giải cũng như thời gian vụ án được đưa ra xét xử) cho bị đơn theo quy định, nhưng bị đơn không có mặt và không có văn bản trình bày ý kiến theo yêu cầu của Tòa án. Tại phiên tòa, bị đơn vắng mặt, không có lý do. được đơn trình báo đề nghị hòa giải mâu thuẫn vợ chồng giữa ông T và Bà C, tuy nhiên, thực tế thì vợ chồng Bà C, ông T có mâu thuẫn do ông T cờ bạc, không lo làm ăn. Bà C đã dẫn theo con bỏ đi, không còn sinh sống với ông T nữa. 3/ Quan điểm: Căn cứ: Áp dụng: khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; - Điều 19, 51, 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình; 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử: về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”. T. Bùi Gia Bảo, sinh ngày 01/7/2013. chung không ai được cản trở. Vì quyền lợi của con chung, các đương sự đều có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn theo quy định của pháp luật. quyết quyết. xét giải quyết. gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai số 0011330 ngày 22/02/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã L. Bà C đã nộp đủ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được hoặc niêm yết công khai bản án. TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ L TỈNH BÌNH THUẬN Vào hồi …h 00 phút ngày 11/6/2024, tại trụ sở TAND thị xã L Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đào Thị Yến Nhi Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Ngọc Thơm - bà Lương Thị Thạnh 26/02/2024 về việc “ Tranh chấp ly hôn, nuôi con” giữa: - Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Huyền Trâm, sinh năm 1987; Địa chỉ: Thôn Bình An 1, xã Tân Bình, thị xã L, tỉnh Bình Thuận. - Bị đơn: Ông Võ Thanh Tâm, sinh năm: 1983 Địa chỉ: Khu phố 3, phường B, thị xã L, tỉnh Bình Thuận. tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật; HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT, QUYẾT ĐỊNH CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU; tòa án: Các thành viên thống nhất đây là “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”, bị đơn có địa chỉ tại thị xã L nên thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND thị xã L. Kết quả biểu quyết: 3/3 a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; - Điều 19, 51, 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình; thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Kết quả biều quyết: 3/3 3. Các vấn đề cần giải quyết: Tòa án thu thập được thể hiện: chung sống đã xảy ra mâu thuẫn, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt, bà Trâm kiên quyết ly hôn, ông Tâm đồng ý nhưng vắng mặt tại phiên tòa, nên chấp nhận cho bà Trâm được ly hôn ông Tâm 31/7/2019. Bà Trâm yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Tại bản ý kiến cũng như đơn xin giải quyết vắng mặt, ông Tâm trình bày ông đồng ý giao con cho bà Trâm trực tiếp nuôi dưỡng. Cháu Ngân đang sống cùng bà Trâm, quá trình sinh sống cùng mẹ, cháu Ngân được nuôi dưỡng, chăm sóc tốt. Do đó, đề nghị giao cho bà Trâm trực tiếp nuôi dưỡng con chung để tránh làm xáo trộn cuộc sống và tâm sinh lý của cháu, đồng thời cũng đảm bảo sự ổn định về nơi sinh sống, học tập của con chung. cầu nên không xem xét, giải quyết Thị Huyền Trâm được ly hôn ông Võ Thành Tâm. Giao cho bà Nguyễn Thị Huyền Trâm trực tiếp nuôi dưỡng con chung Võ Hồng Kim Ngân, sinh ngày 31/7/2019. Về cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung, nợ chung: Nguyên đơn không yêu cầu nên không xem xét giải quyết. đều có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn theo quy định của pháp luật. chấp nhận yêu cầu nguyên đơn, bà Trâm được ly hôn ông Tâm. Giao con chung cho bà Trâm nuôi. Về cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung, nợ chung: không xem xét, giải quyết. chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Huyền Trâm đối với ông Võ Thanh Tâm về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”. Bà Nguyễn Thị Huyền Trâm được ly hôn với ông Võ Thanh Tâm. Hồng Kim Ngân, sinh ngày 31/7/2019. Bà Nguyễn Thị Huyền Trâm không yêu cầu ông Võ Thanh Tâm cấp dưỡng nuôi con. Ông Võ Thanh Tâm được quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung không ai được cản trở. Vì quyền lợi của con chung, các đương sự đều có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn theo quy định của pháp luật. giải quyết. Kết quả biểu quyết: 3/3 hôn nhân gia đình sơ thẩm Kết quả biểu quyết: 3/3. Biên bản kết thúc và lúc … h… ngày 11/6/2024 THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ TÒA 7 | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đào Thị Yến Nhi Vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 71 ngày 11/3/2024, dự kiến xử ngày Bà và ông T đăng ký kết hôn năm 2011 tại Ủy ban nhân dân phường B. Về con chung: Bà và ông T có một con chung là Bùi Gia Bảo, sinh ngày Bị đơn ông Bùi T trình bày: Quá trình giải quyết, bị đơn đều vắng mặt Theo biên bản xác minh tại địa phương thể hiện, địa phương không nhận - Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, - Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Đan C đối với ông Bùi T 1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Đan C được ly hôn với ông Bùi 2. Về con chung: Bà Nguyễn Thị Đan C trực tiếp nuôi dưỡng con chung Ông Bùi T được quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con Về cấp dưỡng: Các đương sự không yêu cầu nên không xem xét giải 3. Tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên không xem 4. Án phí: Bà Nguyễn Thị Đan C phải nộp 300.000 đồng án phí hôn nhân Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời Người đề xuất CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc BIÊN BẢN NGHỊ ÁN Tiến hành nghị án vụ án dân sự thụ lý số 53/2024/TLST-DS ngày Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh 1. Về quan hệ pháp luật có tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của 2. Về điều luật áp dụng: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm - Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, + Ý kiến ông Thơm: Căn cứ tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp, lời khai của nguyên đơn, bị đơn trong quá trình giải quyết vụ án và tài liệu, chứng cứ Về hôn nhân: Giữa ông Tâm và bà Trâm là hôn nhân hợp pháp, quá trình Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung, Võ Hồng Kim Ngân, sinh ngày Về cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu Từ căn cứ trên, ông đề xuất chấp nhận yêu cầu nguyên đơn, bà Nguyễn Ông Võ Thanh Tâm được quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung không ai được cản trở. Vì quyền lợi của con chung, các đương sự + Ý kiến bà Thạnh, bà thống nhất với phân tích và đề xuất của ông Thơm, + Ý kiến chủ tọa: Thống nhất với quan điểm của hai Hội thẩm nhân dân, Giao cho bà Nguyễn Thị Huyền Trâm trực tiếp nuôi dưỡng con chung Võ Tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên không xem xét - Về án phí: Bà Nguyễn Thị Huyền Trâm phải nộp 300.000 đồng án phí THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN |