vanban.org

Bản án 35/2023/HSST — Hình sự

TAND TP. Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình Tuyên án 06/06/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Các bị cáo Hoàng Thị H, Dương Thị H3, Nguyễn Thị Việt T1 phạm tội “ đánh bạc”

1 Xử phạt bị cáo Hoàng Thị H 15 (mười lăm) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 30 (ba mươi)tháng kể từ ngày tuyên án ngày 6/6/2023. Giao bị cáo Hoàng Thị H cho Ủy ban nhân dân phường B, thành phố T, tỉnh Ninh Bình giám sát và giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "hinh sự - phạm tội đánh bạc (điều 248 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Các bị cáo Hoàng Thị H, Dương Thị H3, Nguyễn Thị Việt T1 phạm tội “ đánh bạc”
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 321 Bộ luật Hình sự
THÀNH PHỐ TAM ĐIỆP
TỈNH NINH BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 35/2023/HSST
Ngày 06 - 6 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TAM ĐIỆP,TỈNH NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Phan Ngọc Hà

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Dương;

2. Ông Nguyễn Văn Đang

- Thư ký phiên toà: ông Phạm Việt Dũng, thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình tham gia phiên toà: bà Phạm Thị Hà - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 6 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 37/2023/TLST - HS ngày 28 tháng 4 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 32/2023/QĐXXST – HS ngày 24 tháng 5 năm 2023 đối với các bị cáo:

1. Hoàng Thị H, tên gọi khác: không, sinh ngày 21/10/1992, tại huyện Ý, tỉnh Nam Định; nơi đăng ký thường trú: thôn B, xã Y, huyện Ý, tỉnh Nam Định; nơi cư trú (nơi ở hiện nay): tổ I, phường B, thành phố T, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: đại lý bán vé xổ số; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam. Căn cước công dân số 036192011535 do Cục Q1 về trật tự xã hội cấp ngày 24/8/2022; con ông: Hoàng Mạnh H1 và bà Nguyễn Thị H2; chồng: Trần Thanh T, con có 2 con, con lớn sinh năm 2014, con nhỏ sinh năm 2019; tiền án: không; tiền sự: không. nhân thân: tại bản án số 19/2019/HSST ngày 19/4/2019, Toà án nhân dân thành phố Tam Điệp xử phạt 18.000.000 đồng, tịch thu sung ngân sách nhà nước 880.000 đồng, án phí hình sự sơ thẩm 200.000đồng. Bị cáo nộp án phí 18/6/2019, nộp tiền phạt ngày 06/02/2020. Bị cáo hiện đang bị áp dụng lệnh Cấm đi khỏi nơi cư trú của Toà án nhân dân thành phố Tam Điệp; bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2. Nguyễn Thị Việt T1, tên gọi khác: không, sinh ngày 11/7/1994, tại huyện N, tỉnh Ninh Bình; nơi đăng ký thường trú: thôn Đ, xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình; nơi cư trú (nơi ở hiện nay): tổ D, phường T, thành phố T, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; số căn cước công dân 037194012593 do Cục Q1 về trật tự xã hội cấp ngày 14/9/2021 con ông: Nguyễn Văn B và bà Trần Thị Q; chồng Nguyễn Văn T2, con có 01 con sinh năm 2017; Tiền án: không; tiền sự: không. Bị cáo hiện đang bị áp dụng lệnh Cấm đi khỏi nơi cư trú của Toà án nhân dân thành phố Tam Điệp; bị cáo có mặt tại phiên tòa.

3. Dương Thị H3, tên gọi khác: không, sinh ngày 01/9/1986, tại thành phố T, tỉnh Ninh Bình; nơi cư trú: thôn Y, xã Y, thành phố T, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: công nhân; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: mường; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; số căn cước công dân: 037186000624 do Cục Q1 về trật tự xã hội cấp ngày 27/4/2016 con ông: Dương Văn N và bà Bùi Thị T3; chồng Vũ Văn H4, con có 01 con sinh năm 2016; Tiền án: không; tiền sự: không. Bị cáo hiện đang bị áp dụng lệnh Cấm đi khỏi nơi cư trúcủa Toà án nhân dân thành phố Tam Điệp; bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người chứng kiến: anh Trần Thanh T (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hoàng Thị H ký hợp đồng làm đại lý bán xổ số và lô tô cho công ty TNHH một thành viên X, chi nhánh tại thành phố T. Lợi dụng việc bán vé xổ số, lô tô cho nhà nước, H bán các số lô, số đề trái phép cho khách để thu lời bất chính. Đối với số lô người mua 01 điểm là 23.000 đồng, nếu trúng H phải trả 80.000 đồng; đối với số đề người mua 1.000 đồng, nếu trúng H trả 70.000 đồng, lấy kết quả xổ số kiến thiết Miền Bắc mở thưởng trong ngày để đối chiếu, trả thưởng. Người mua có thể mua trực tiếp tại bàn xổ số hoặc vào Z nhắn các số lô, số đề gửi vào Zalo cho H.

Hồi 16 giờ 29 phút ngày 05/12/2022 Dương Thị H3 ở nhà của mình, sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Oppo F7 mầu đen, có lắp sim số thuê bao 0976.847.698 soạn 01 tin nhắn trên zalo có tên “Duong Hai” mua 19 số đề, mỗi số 140.000 đồng; 22 số đề, mỗi số 120.000 đồng và 02 số lô, mỗi số 25 điểm với tổng số tiền là 6.450.000 đồng, nhắn xong H3 gửi đến zalo có tên “Thlinh” của H. Hoàng Thị H đang ngồi bán xổ số tại vỉa hè đường Đ thuộc tổ A, phường T, thành phố T nhận được tin nhắn của H3 gửi đến zalo tên “Thlinh” cài đặt trên máy điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 plus mầu hồng, có lắp sim số thuê bao 0979.320.250 của mình. H xem tin nhắn thì đồng ý bán các số lô, số đề trên cho H3 nên nhắn tin OK gửi lại cho H3 để xác nhận. Hồi 17 giờ 21 phút cùng ngày Nguyễn Thị Việt T1 ở nhà mình, sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X mầu trắng, lắp sim số thuê bao 0965.172.937 vào ứng dụng zalo có tên “Trái Tim Buồn” soạn 05 tin nhắn mua 23 số đề, mỗi số 10.000 đồng; 02 số lô, mỗi số 70 điểm; 05 số lô, mỗi số 20 điểm; 02 số lô, mỗi số 10 điểm và 20 số lô, mỗi số 5 điểm (tổng 360 điểm lô) với tổng số tiền mua số lô, số đề là 8.510.000 đồng, gửi đến zalo có tên “Thlinh” của H. Hoàng Thị H đang ngồi bán xổ số tại vỉa hè nhận được các tin nhắn của T1 gửi đến zalo tên “Thlinh”, H xem tin nhắn đồng ý bán các số lô, số đề trên cho T1 nên nhắn tin OK gửi lại cho T1 để xác nhận (việc mua bán số lô, số đề giữa H, H3 và T1 chưa được thanh toán cho nhau).

Đối chiếu với kết quả xổ số kiến thiết Miền Bắc mở thưởng cùng ngày, Dương Thị H3 trúng số đề 54 mua 120.000 đồng, được số tiền 8.400.000 đồng và trúng số lô 91 mua 25 điểm, được số tiền 2.000.000 đồng (tổng tiền H3 trúng 10.400.000 đồng); Nguyễn Thị Việt T1 trúng các số lô: 18, 36, 85, 71 mỗi số mua 05 điểm, số lô 56 mua 20 điểm, số lô 38 mua 70 điểm và số lô 63 mua 10 điểm (tổng 120 điểm lô được số tiền 9.600.000 đồng). Số tiền H3 và T1 trúng số lô, số đề H chưa thanh toán cho H3 và T1.

Ngày 13/02/2023 Dương Thị H3 đã đến cơ quan điều tra tự nguyện giao nộp số tiền 6.450.000 đồng tiền mua số lô, số đề của H nhưng chưa thanh toán cho H.

Ngày 27/4/2023 Hoàng Thị H đã đến Chi cục thi hành án dân sự thành phố Tam Điệp tự nguyện giao nộp số tiền 20.000.000 đồng, là tiền H3 và T1 đã trúng số lô, số đề khi mua của H nhưng H chưa trả cho H3 và T1.

Quá trình điều tra, truy tố các bị can Hoàng Thị H, Dương Thị H3 và Nguyễn Thị Việt T1 thành khẩn khai báo hành vi phạm tội.

Tại bản cáo trạng số: 39/CT-VKSTPTĐ ngày 28 tháng 4 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp đã truy tố các bị can Hoàng Thị H, Dương Thị H3, Nguyễn Thị Việt T1 ra trước Tòa án nhân dân thành phố Tam Điệp để xét xử về tội: “Đánh bạc” Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố.

Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Hoàng Thị H.

Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Dương Thị H3 và Nguyễn Thị Việt T1.

Đề nghị Hội đồng xét xử. Tuyên bố các bị cáo Hoàng Thị H, Dương Thị H3 và Nguyễn Thị Việt T1 phạm tội “Đánh bạc”.

+ Xử phạt bị cáo: Hoàng Thị Hiền từ 12 đến 15 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 đến 30 tháng. Giao bị cáo Hoàng Thị H cho Ủy ban nhân dân phường B, thành phố T, tỉnh Ninh Bình giám sát và giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách

Phạt bổ sung từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000đồng

+ Xử phạt bị cáo: Nguyễn Thị Việt T1 từ 15 đến 18 tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ được tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an thành phố T, tỉnh Ninh Bình, nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án đối với Nguyễn Thị Việt T1; khấu trừ từ 5 đến 10% thu nhập trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ.

Phạt bổ sung từ 10.000.000đồng đến 15.000.000đồng;

+ Xử phạt bị cáo Dương Thị H3 từ 12 đến 15 tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an thành phố T, tỉnh Ninh Bình, nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án đối với Dương Thị H3; khấu trừ từ 5 đến 10% thu nhập trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ.

Phạt bổ sung từ 10.000.000đồng đến 15.000.000đồng

Về xử lý vật chứng: áp dụng điểm a, b khoản 1 điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu sung quỹ nhà nước: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 plus mầu hồng; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo F7 mầu đen; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X mầu trắng; và số tiền 34.960.000đồng các bị cáo tự nguyện nộp.

Tịch thu tiêu huỷ 03 chiếc sim điện thoại có số thuê bao 0979.320.250; 0976.847.698; 0965.172.937.

+ Về án phí: Buộc các bị cáo mỗi bị cáo phải nộp 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.

+ Tại phiên toà, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của các bị cáo phù hợp với diễn biến như bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Việc đưa các bị cáo ra xét xử về tội danh và điều luật mà viện kiểm sát đã truy tố là đúng người, đúng tội.

Lời nói sau cùng các bị cáo nhất trí với luận tội mà viện kiểm sát luận tội không có tranh luận và các bị cáo đều đề nghị được hưởng mức án nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi của các bị cáo: Tại phiên toà các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của các bị cáo là phù hợp với nhau, phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án nên có cơ sở để xác định: chiều ngày 05/12/2022, tại khu vực tổ A phường T, thành phố T, tỉnh Ninh Bình, Hoàng Thị H bán trái phép 41 số đề, 02 số lô với tổng số tiền 6.450.000 đồng cho Dương Thị H3; bán trái phép 23 số đề và 29 số lô với số tiền 8.510.000 đồng cho Nguyễn Thị Việt T1. Căn cứ kết quả sổ xố kiến thiết miền B mở thưởng cùng ngày H3 trúng 01 số lô (25 điểm) và 01 số đề mua 120.000 đồng, được tổng số tiền trúng 10.400.000 đồng, T1 trúng 07 số lô (tổng 120 điểm) được tổng số tiền 9.600.000đồng

Như vậy, tổng số tiền cụ thể của các bị cáo sử dụng vào mục đích đánh bạc bị cáo Dương Thị H3 là 16.850.000đồng; bị cáo Nguyễn Thị Việt T1 là 18.110.000đồng; bị cáo Hoàng Thị H là 34.960.000đồng

Hành vi mua bán số lô, số đề trái phép nêu trên mà các bị cáo thực hiện đã phạm tội đánh bạc, tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1, khoản 3 Điều 321 của Bộ luật hình sự.

Tại Điều 321 của Bộ luật Hình sự quy định:

1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”

...............

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000đồng đến 50.000.000 đồng”

Bản Cáo trạng số 39/CT– VKSTPTĐ ngày 28/4/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp đã truy tố các bị cáo Hoàng Thị H, Dương Thị H3, Nguyễn Thị Việt T1 về tội “ Đánh bạc” là có căn cứ đúng pháp luật.

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trật tự an toàn công cộng, ảnh hưởng xấu đến tình hình trị an ở địa phương. Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi do cố ý, các bị cáo nhận thức rõ được đánh bạc bị Nhà nước cấm, từ cờ bạc dẫn đến hàng loạt các loại tội phạm khác. Để đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật thì cần thiết phải đưa ra xét xử với mức hình phạt nghiêm khắc, có như vậy mới nhằm ngăn chặn tệ nạn đánh bạc nói riêng và phòng ngừa tội phạm chung trên địa bàn.

Xét về vị trí vai trò: Vụ án có đồng phạm nhưng là đồng phạm giản đơn, để cá thể hóa hình phạt cần thiết phải xác định vai trò, mức độ tham gia của các bị cáo để áp dụng mức hình phạt tương xứng với từng bị cáo.

Trong vụ án không có sự phân công bàn bạc từ trước, các bị cáo cùng nhau thực hiện hành vi phạm tội khi biết Hoàng Thị H là người ghi số lô, số đề trái phép, nên trong vụ án bị cáo H có vai trò đầu tiên; bị cáo H3 và bị cáo T1 là người tham gia nên có vai trò sau bị cáo H.

Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:

+ Về tình tiết giảm nhẹ: Tất cả các bị cáo trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay các bị cáo thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi phạm tội của mình nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; trong giai đoạn chuẩn bị xét xử bị cáo Hoàng Thị H có thành tích trong việc đấu tranh phát hiện tội phạm có xác nhận của Cơ quan có thẩm quyền về việc tiếp nhận nguồn tin về tội phạm nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm t khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo Dương Thị H3, bị cáo Nguyễn Thị Việt T1 lần đầu phạm tội và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình Sự.

Các bị cáo Dương Thị H3 đã tự nguyện giao nộp số tiền 6.450.000 đồng tiền mua số lô, số đề của H nhưng chưa thanh toán cho H; bị cáo Nguyễn Thị Việt T1 đã tự nguyện nộp số tiền 8.510.000 tiền bị cáo mua số lô, số đề của H nhưng chưa thanh toán cho H; bị cáo Hoàng Thị H đã tự nguyện nộp số tiền 20.000.000 đồng tiền bị cáo H3 và bị cáo T1 đã trúng số lô, số đề khi mua nhưng bị cáo H chưa thanh toán.(Riêng bị cáo H có chồng được thưởng Huân chương chiến sĩ vẻ vang; bố chồng được thưởng Huân chương kháng chiến) Do vậy các bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

+ Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Tất cả các bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Về nhân thân: Bị cáo Hoàng Thị H là người có nhân thân xấu. Tại bản án số: 19/2019/HSST ngày 14/9/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình đã quyết định xử phạt 18.000.000 đồng, án phí 200.000 đồng về tội “ Đánh bạc” bị cáo đã chấp hành xong bản án vào ngày 06/02/2020.

Về hình phạt:

Đối với bị cáo Hoàng Thị H là người có nhân thân xấu, vào năm 2019 đã từng bị xét xử về tội “đánh bạc” với mức hình phạt chính là hình phạt tiền, bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân, nay lại tiếp tục phạm tội, thiết nghĩ cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống chung của xã hội một thời gian nhất định mới có thể giáo dục được bị cáo. Song sau khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo đã thực sự ăn năn hối cải về việc làm của mình, bị cáo đã hợp tác với Cơ quan điều tra lập thành tích trong việc phát hiện tội phạm; bị cáo tự nguyện nộp số tiền đánh bạc vào tài khoản tạm giữ; bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên chưa cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống chung của xã hội mà để bị cáo cải tạo tại địa phương với hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo cũng giúp bị cáo sửa chữa cải tạo trở thành công dân tốt có ích cho gia đình và xã hội. Bị cáo đánh bạc vì mục đích vụ lợi, vì vậy cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung bằng phạt tiền đối với bị cáo.

Đối với các bị cáo Dương Thị H3, Nguyễn Thị Việt T1 phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng có nhiều tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên chưa cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống chung của xã hội mà để các bị cáo cải tạo tại địa phương với hình phạt cải tạo không giam giữ cũng đủ để các bị cáo nhận thức được hành vi phạm tội của mình để sửa chữa trở thành công dân tốt. Các bị cáo đánh bạc vì mục đích lợi nhuận nên cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung bằng phạt tiền đối với các bị cáo H3 và T1.

Trong vụ án này có số thuê bao điện thoại 0979320250 được lắp trong chiếc điện thoại Iphone 7 Plus mầu hồng thu giữ của Hoàng Thị H, quá trình điều tra xác định chủ thuê bao có tên Vũ Trọng T4, sinh năm 1957, địa chỉ xóm H, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định. Qua điều tra xác định ông T4 không đăng ký và sử dụng số điện thoại 0979320250 nên ông Vũ Trong T5 không vi phạm pháp luật.

Về xử lý vật chứng: Chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 plus mầu hồng, có lắp sim số thuê bao 0979.320.250; chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo F7 mầu đen, có lắp sim số thuê bao 0976.847.698 và chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X mầu trắng, có lắp sim số thuê bao 0965.172.937.

Đối với 03 chiến điện thoại là công cụ phạm tội nên tịch thu sung quỹ nhà Nước.

Đối với 3 chiếc sim không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu huỷ.

Đối với số tiền mà bị cáo Hoàng Thị H đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Tam Điệp số tiền 20.000.000 đồng, là tiền H3 và T1 đã trúng số lô, số đề khi mua của H nhưng H chưa trả cho H3 và T1; số tiền mà bị cáo Dương Thị H3 đã tự nguyện giao nộp số tiền 6.450.000 đồng tiền mua số lô, số đề của H nhưng chưa thanh toán cho H; bị cáo T1 tự nguyện nộp số tiền 8.510.000 đồng tiền mua số lô, số đề của H nhưng chưa thanh toán cho H. Được tịch thu sung quỹ nhà nước, không buộc phải truy thu tiền mà bị cáo H, T6, H3 dùng vào việc đánh bạc. Căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

Về án phí hình sự: các bị cáo bị kết án, do đó các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Các bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Hoàng Thị H.

Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Dương Thị H3 và Nguyễn Thị Việt T1.

Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ Ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí toà án.

1. Tuyên bố: Các bị cáo Hoàng Thị H, Dương Thị H3, Nguyễn Thị Việt T1 phạm tội “ đánh bạc”

1.1 Xử phạt bị cáo Hoàng Thị H 15 (mười lăm) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 30 (ba mươi)tháng kể từ ngày tuyên án ngày 6/6/2023.

Giao bị cáo Hoàng Thị H cho Ủy ban nhân dân phường B, thành phố T, tỉnh Ninh Bình giám sát và giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo qui định luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

+ Phạt bổ sung 15.000.000 ( mười lăm triệu) đồng.

1.2. Xử phạt bị cáo: Nguyễn Thị Việt T1 18 (mười tám) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an thành phố T, tỉnh Ninh Bình nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án đối với Nguyễn Thị Việt T1 .

Giao bị cáo Nguyễn Thị Việt T1 cho Ủy ban nhân dân phường T, thành phố T, tỉnh Ninh Bình nơi bị cáo Nguyễn Thị Việt T1 thường trú để giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Bị cáo phải thực hiện những nghĩa vụ quy định tại Luật Thi hành án hình sự.

+ Phạt bổ sung 10.000.000đồng ( mười triệu đồng).

+ Khấu trừ 5% thu nhập trong thời gian chấp hành án cải tạo không giam giữ; trường hợp bị phạt cải tạo không giam giữ không có việc làm trong thời gian chấp hành hình phạt này thì phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ ( thời gian lao động phục vụ cộng đồng không quá 4 giờ trong một ngày và không quá 05 ngày trong 01 tuần).

1.3. Xử phạt bị cáo: Dương Thị H3 15 (mười lăm) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an thành phố T, tỉnh Ninh Bình, nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án đối với Dương Thị H3 .

Giao bị cáo Dương Thị H3 cho Ủy ban nhân dân xã Y, thành phố T, tỉnh Ninh Bình nơi bị cáo Dương Thị H3 thường trú để giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Bị cáo phải thực hiện những nghĩa vụ quy định tại Luật Thi hành án hình sự.

+ Phạt bổ sung 10.000.000đồng ( mười triệu đồng).

+ Khấu trừ 5% thu nhập trong thời gian chấp hành án cải tạo không giam giữ; trường hợp bị phạt cải tạo không giam giữ không có việc làm trong thời gian chấp hành hình phạt này thì phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ ( thời gian lao động phục vụ cộng đồng không quá 4 giờ trong một ngày và không quá 05 ngày trong 01 tuần).

2. Về xử lý vật chứng:

2.1 Tịch thu sung quỹ nhà nước: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 plus mầu hồng; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo F7 mầu đen; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X mầu trắng và số tiền 6.450.000đồng do Dương Thị H3 đã tự nguyện nộp; số tiền 20.000.000đồng do Hoàng Thị H tự nguyện nộp; số tiền 8.510.000đồng do Nguyễn Thị Việt T1 tự nguyện nộp.

2.2 Tịch thu tiêu huỷ 03 chiếc sim điện thoại có số thuê bao 0979.320.250; 0976.847.698; 0965.172.937.

( Chi tiết vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 10/5/2023 và uỷ nhiệm chi lập ngày 08/5/2023 giữa Công an thành phố T với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tam Điệp).

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: các bị cáo Hoàng Thị H, Dương Thị H3, Nguyễn Thị Việt T1 mỗi bị cáo phải nộp 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm, các bị cáo biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 6/6/2023.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự

Cỡ chữ