- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lạm dụng tín nhiệm CĐTS - phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (điều 175 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đình A (tức Nguyễn Việt A) phạm tội: “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự - Áp dụng Nghị; Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự - Áp dụng Nghị; Điều 331 Bộ luật tố tụng hình sự - Áp dụng Nghị
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LONG BIÊN THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| ---------------- Bản án số:35/2023/HSST Ngày: 28/02/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LONG BIÊN- TP HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Tự Hiếu
Hội thẩm nhân dân: Ông Tạ Đức Minh và ông Nguyễn Văn Đông
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Phạm Lệ Quyên- Cán bộ Toà án
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Mạnh Hùng- Kiểm sát viên
Ngày 28 tháng 02 năm 2023, Toà án nhân dân quận Long Biên mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số 23/2023/TLST-HS ngày 03/02/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2023/QĐXXST- HS ngày 13/02/2022 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Đình A (tức Nguyễn Việt A), sinh năm 1988, ĐKHKTT và chỗ ở: Đội X thôn T, xã T, huyện C, TP. Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh.Tôn giáo: Không. Văn hoá: 4/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Con ông: Nguyễn Đình T (đã chết); Họ và tên mẹ: Phạm Thị H.
Theo danh chỉ bản số 830 ngày 07/12/2022 của Công an quận Long Biên lập và lý lịch địa phường cung cấp, bị cáo có nhân thân như sau:
- Bản án số 53/2007/HSST ngày 02/4/2007, Tòa án nhân dân quận Hà Đông, Hà Nội xử phạt 30 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy
- Bản án số 11/2011/HSST ngày 20/4/2011, Tòa án nhân dân huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên xử phạt 03 năm 6 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”,
- Bản án số 11/2015/HSST ngày 10/02/2015, Tòa án nhân dân huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên xử phạt 02 năm 9 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”
Bị cáo bị bắt quả tang ngày 29/11/2022, tạm giữ đến ngày 07/12/2022 áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam.
Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại trại tạm giam số 2 Công an TP. Hà Nội.
(Có mặt tại phiên tòa)
Bị hại: Anh Dương Đình B, sinh năm 1990
HKTT: Thôn X, xã T, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa
Trú tại: Số X ngõ Y G, tổ 1 phường T, quận L, TP. Hà Nội
(Anh B vắng mặt và có đơn xin vắng mặt)
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Chị Dương Thị Mỹ L, sinh năm 2022
Trú tại: Phường X thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị
(Chị L vắng mặt và có đơn xin vắng mặt)
- Anh Hồ Văn V, sinh năm 1988
Trú tại: Số 73 phố Quang Trung, tổ dân phố số 8 phường Phú La, quận Hà Đông, TP. Hà Nội
(Anh V vắng mặt và có đơn xin vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ 50 ngày 29/11/2022, Công an phường Bồ Đề nhận được tin báo của quần chúng nhân dân về việc có nam thanh niên thực hiện hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản tại khu vực tổ 19 phường Bồ Đề, quận Long Biên, TP. Hà Nội. Sau khi tiếp nhận tin báo tổ công tác đã tiếp nhận đối tượng Nguyễn Đình A từ anh Dương Đình B và anh Nguyễn Ngọc D
Tang vật thu giữ: 01 chiếc điện thoại Vivo 1723 màu hồng; 01 Ví nam màu nâu bên trong có 179.000 đồng; 01 thẻ ngân hàng VietcomBnk và 01 thẻ ngân hàng BIDV đều mang tên Nguyễn Đình A.
Quá trình điều tra làm rõ nội dung vụ án như sau: Vào khoảng 17 giờ 50′ ngày 29/11/2022, anh Dương Đình B có gặp Nguyễn Đình A đến phòng trọ của anh Nguyễn Khắc Cường; sinh năm: 1968 tại: Số 66 ngõ 1, phố Gia Quất, tổ 1 phường Thượng Thanh, quận Long Biên, TP. Hà Nội gần phòng trọ của anh B để chơi. Do không có tài khoản ngân hàng nên anh B hỏi Nguyễn Đình A có thẻ tài khoản ngân hàng không để anh B nhờ người chuyển tiền đến và rút đưa lại cho anh B. Nguyễn Đình A có thẻ ngân hàng nên đã đồng ý nhận lời giúp anh B. Anh B đã gọi điện nhờ chị Dương Thị Mỹ L sử dụng số tài khoản: 88290321 – Ngân hàng VP Bnk chuyển số tiền 2.000.000 đồng đến số tài khoản: 1018042541 Ngân hàng VietcomBnk của Nguyễn Đình A. Nguyễn Đình A sau khi nhận được số tiền 2.000.000 đồng mà chị L chuyển cho anh B đã nảy sinh ý định chiếm đoạt nên nói với anh B là chưa nhận được và bảo anh B nhờ người nhà chuyển lại, lúc nào nhận được Đình A sẽ rút một thể. Đồng thời Đình A đã chuyển 1.540.000 đồng và 440.000 đồng vào số tài khoản: 45010002649621 – Ngân hàng TMCP Đầu tư và phát triển Việt Nam của anh Hồ Văn V. Anh B tiếp tục gọi điện nhờ chị L chuyển thêm số tiền 2.000.000 đồng vào tài khoản của Đình A. Sau khi nhận được thêm 2.000.000 đồng Đình A tiếp tục chuyển vào tài khoản trên của anh V số tiền 1.100.000 đồng. Tổng số tiền Nguyễn Đình A chuyển cho Hồ Văn V là 3.080.000 đồng, số tiền trên là Nguyễn Đình A trả nợ cho Hồ Văn V, rồi xóa lịch sử giao dịch trên điện thoại. Khi anh B hỏi về số tiền trên thì Đình A trả lời là chưa nhận được để chiếm đoạt toàn bộ số tiền 4.000.000 đồng do chị L chuyển. Anh B có cầm máy điện thoại của Anh để kiểm tra thì phát hiện lịch sử giao dịch đã bị xóa do vậy anh B đã yêu cầu Đình A đến cây ATM để rút tiền. Khi đến cây ATM Đình A đưa thẻ ATM cho anh B để kiểm tra thì thấy trong thẻ không đủ số tiền anh nên anh B đã nói với Đình A về việc lên cơ quan công an để giải quyết. Thấy vậy, Đình A liền bỏ chạy, anh B đã phối hợp cùng quần chúng nhân dân đuổi bắt và đưa Đình A đến công an phường Bồ Đề giải quyết.
Đối với anh Hồ Văn V có cho Đình A mượn số tiền 3.080.000 đồng, ngày 29/11/2022, Đình A chuyển 03 lần cho anh V để trả nợ số tiền trên, anh V không biết số tiền trên là do Đình A phạm tội mà có. Sau khi được cơ quan công an mời lên làm việc, anh V đã giao nộp lại số tiền trên và không có yêu cầu, đề nghị gì khác. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Long Biên không đặt vấn đề xử lý đối với anh V.
Đối với 01 chiếc điện thoại Vivo 1723 màu hồng; 01 ví nam màu nâu bên trong có 179.000 đồng; 01 thẻ ngân hàng VietcomBnk và 01 thẻ ngân hàng BIDV đều mang tên Nguyễn Đình A là tang vật của vụ án, chuyển Tòa án để giải quyết theo quy định.
Về dân sự: Cơ quan điều tra đã trao trả lại cho anh Nguyễn Đình B số tiền 3.080.000 đồng mà Hồ Văn V giao nộp, gia đình Nguyễn Đình A đã bồi thường cho anh B số tiền 920.000 đồng. Anh B đã nhận lại toàn bộ số tiền trên và không có ý kiên gì khác.
Tại Bản cáo trạng số 27/CT-VKS ngày 02/02/2023 của Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên truy tố bị cáo Nguyễn Đình A về hành vi “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 1 Điều 175 Bộ luật hình sự
Tại phiên toà:
- Bị cáo Nguyễn Đình A thành khẩn khai nhận tội như đã khai tại cơ quan điều tra, thừa nhận bản cáo trạng truy tố bị cáo là đúng và không kêu oan, chỉ mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt
- Bị hại là anh Dương Đình B vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Anh B đã được Cơ quan điều tra trao trả toàn bộ số tiền bị cáo Đình A chiếm đoạt nên không có ý kiến gì và đề nghị Tòa án xét xử bị cáo theo quy định của pháp luật. Hội đồng xét xử áp dụng Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự xử vắng mặt anh Dương Đình B.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chị Dương Thị Mỹ L vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử áp dụng Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự xử vắng mặt chị Dương Thị Mỹ L.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Hồ Văn V vắng mặt và có đơn để nghị xét xử vắng mặt. Tại cơ quan điều tra anh V đã có lời khai rõ ràng, khi nhận được số tiền 3.080.000 đồng do bị cáo Đình A chuyển để trả nợ, anh không biết là tài sản do Đình A phạm tội mà có. Anh đã giao nộp toàn bộ số tiền trên cho Cơ quan điều tra. Hội đồng xét xử áp dụng Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự xử vắng mặt anh Hồ Văn V.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân quận Long Biên duy trì công tố tại phiên tòa, sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ theo quy định của Bộ luật hình sự.
Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên đề nghị như sau:
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 175, điểm b, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự
Xử phạt bị cáo mức án từ 10 - 12 tháng tù
Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo
Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét
Về xử lý vật chứng: Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước 01 chiếc điện thoại Vivo 1723 màu hồng, bị cáo sử dụng làm công cụ, phương tiện phạm tội
Trả lại cho bị cáo 01 ví nam màu nâu, số tiền 179.000 đồng, 01 thẻ ngân hàng BIDV và 01 thẻ ngân hàng VietcomBnk đều mang tên Nguyễn Đình A
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi tố tụng của Cơ quan CSĐT- Công an quận Long Biên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã xuất trình tài liệu, chứng cứ phù hợp với các quy định của pháp luật, không ai có ý kiến gì hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Xét lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Đình A tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, Đơn trình báo của bị hại, lời khai của bị hại, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, vật chứng thu giữ cùng với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án cũng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên.
Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Do không có tài khoản ngân hàng nên anh Dương Đình B có nhờ Nguyễn Đình A nhận tiền qua tài khoản rồi rút tiền trả anh B. Khi chị Dương Thị Mỹ L chuyển số 2.000.000 đồng đến tài khoản của bị cáo Đình A, bằng thủ đoạn gian dối bị cáo nói với anh B là chưa nhận được tiền chuyển đến, đồng thời bị cáo chuyển 1.540.000 đồng và 440.000 đồng vào số tài khoản của anh Hồ Văn V để trả nợ. Anh B tiếp tục nhờ chị L chuyển thêm số tiền 2.000.000 đồng vào tài khoản của bị cáo. Sau khi nhận được số tiền 2.000.000 đồng, bị cáo tiếp tục chuyển vào tài khoản của anh V số tiền 1.100.000 đồng để trả nợ. Khi anh B hỏi về số tiền thì bị cáo trả lời chưa nhận được nhằm mục đích chiếm đoạt số tiền trên và xóa toàn bộ giao dịch. Anh B yêu cầu bị cáo đến cây ATM để rút tiền và kiểm tra thì thấy trong thẻ không đủ tiền, bị cáo Đình A bỏ chạy nên đã bị anh B cùng quần chúng nhân dân đuổi bắt và đưa bị cáo đến công an phường Bồ Đề giải quyết.
Hành vi của bị cáo Nguyễn Đình A đã phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 175 Bộ luật hình sự. Do đó Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên đưa ra các chứng cứ buộc tội và truy tố bị cáo Nguyễn Đình A với tội danh “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 175 Bộ luật hình sự là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ mà còn gây mất trật tự trị an, an toàn xã hội, vì muốn có tiền để trả nợ nên bị cáo đã thực hiện hành vi gian đối nhằm chiếm đoạt tài sản.
Xét nhân thân bị cáo có 03 tiền án: Bản án số 53/2007/HSST ngày 02/4/2007, Tòa án nhân dân quận Hà Đông, Hà Nội xử phạt 30 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, Bản án số 11/2011/HSST ngày 20/4/2011, Tòa án nhân dân huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên xử phạt 03 năm 6 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và Bản án số 11/2015/HSST ngày 10/02/2015, Tòa án nhân dân huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên xử phạt 02 năm 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tuy các tiền án này đã được xóa án tích nhưng điều đó chứng tỏ bị cáo có nhân thân rất xấu, bị cáo đã được cơ quan pháp luật giáo dục nhiều lần nhưng không lấy đó làm bài học mà vẫn lao sâu vào con đường phạm tội do đó cần phải áp dụng phạt tù nghiêm khắc cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục, cải tạo, răn đe và đấu tranh phòng ngừa chung.
Tuy nhiên khi lượng hình, Hội đồng xét xử xem xét tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải, bị cáo đã tác động gia đình khắc phục toàn bộ hậu quả do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập nên miễn áp dụng hình phạt phạt tiền.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận đủ số tiền 4.000.000 đồng, không có ý kiến gì khác nên không xem xét.
Về xử lý vật chứng: Đối với 01 chiếc điện thoại Vivo 1723 màu hồng, bị cáo sử dụng làm công cụ, phương tiện phạm tội cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước.
Đối với 01 ví nam màu nâu, số tiền 179.000 đồng, 01 thẻ ngân hàng BIDV và và 01 thẻ ngân hàng VietcomBnk mang tên Nguyễn Đình A không liên quan đến hành vi phạm tội cần trả lại cho bị cáo
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng mức hình phạt tù có thời hạn, không áp dụng hình phạt bổ sung và xử lý vật chứng là có căn cứ và cơ bản phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đình A (tức Nguyễn Việt A) phạm tội: “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”
- Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 175, điểm b, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự
- Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106, Điều 135, Điều 331, Điều 332 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự
- Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy Bn thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Xử phạt Nguyễn Đình A (tức Nguyễn Việt A) 10 (Mười) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 29/11/2022.
Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt tiền cho bị cáo Nguyễn Đình A
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận đầy đủ số tiền 4.000.000 đồng và không có ý kiến gì khác do đó không xem xét.
Về xử lý vật chứng: Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước 01 chiếc điện thoại Vivo 1723 màu hồng, vỡ màn hình đã qua sử dụng.
Trả lại cho bị cáo Đình A 01 ví nam màu nâu, 01 thẻ ngân hàng BIDV và 01 thẻ ngân hàng VietcomBnk mang tên Nguyễn Đình A đều đã qua sử dụng.
Toàn bộ vật chứng hiện đang được lưu giữ tại kho tang vật theo Biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan CSĐT- Công an quận Long Biên và Chi cục thi hành án dân sự quận Long Biên ngày 03/02/2023
Trả lại cho bị cáo Đình A số tiền 179.000 đồng theo Giấy nộp tiền vào tài khoản số 3949.0.9052560.00000 tại Kho bạc nhà nước quận Long Biên ngày 02/02/2023
Về án phí: Bị cáo Nguyễn Đình A (tức Nguyễn Việt Anh) phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm
Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND TP HN; - VKS, CA, Chi cục THADS quận Long Biên - Thi hành án hình sự; - Bị cáo, bị hại, NLQ - Lưu hồ sơ vụ án; VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm Phán – Chủ tọa phiên tòa Trần Tự Hiếu |