vanban.org

Bản án 35/2023/HSST — Hình sự

TAND huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh Tuyên án 16/05/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lô Văn Ph phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt Lô Văn Ph 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 16/01/2023. Quyết định tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án 16/5/2023 để đảm bảo thi hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ án tàng trưc ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lô Văn Ph phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
  • Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ THUẬN THÀNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BẮC NINH
Bản án số: 35/2023/HSST
Ngày 16/5/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THUẬN THÀNH - TỈNH BẮC NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Sỹ Cây.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Bá Thành, ông Trần Giai Thưởng.

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Phú – Thẩm tra viên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận Thành tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lâm, Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 5 năm 2023 tại điểm cầu trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh và điểm cầu Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Ninh. Toà án nhân dân thị xã Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh đã tiến hành xét xử sơ thẩm công khai theo hình thức trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số 22/2023/TLST-HS, ngày 7 tháng 4 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 22/2023/QĐXXST-HS ngày 4 tháng 5 năm 2023 đối với:

Bị cáo Lô Văn Ph, sinh năm 2004.

Tên gọi khác: Không. Giới tính: Nam

HKTT: Bản Xốp Cháo, xã Lượng Minh, huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An.

Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Khơ Mú. Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ học vấn: Lớp 10/12. Họ và tên cha: Lô Văn Hoa, sinh năm 1964. Họ và tên mẹ: Lữ Thị Vân, sinh năm 1977. Gia đình bị cáo có 05 anh chị em, bị cáo là con thứ 4 trong gia đình. Vợ, con: Chưa có.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/01/2023 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Ninh (bị cáo có mặt tại phiên toà).

Người bào chữa: Bà Đặng Thị Hương – Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Bắc Ninh (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 14 giờ 00 phút ngày 16/01/2023, tại khu vực đường liên thôn thôn Tam Á, xã Gia Đông, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh (Nay là khu phố Tam Á, phường Gia Đông, thị xã Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh), tổ công tác Công an xã Gia Đông đã phát hiện bắt quả tang và lập biên bản đối với Lô Văn Ph, sinh năm 2004 có HKTT tại bản Xốp Cháo, xã Lượng Minh, huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An có hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý. Thu giữ vật chứng tại túi quần phía trước bên trái Ph đang mặc 01 túi nilon màu trắng có viền màu trắng bên trong có chứa 02 viên nén hình tròn màu hồng. Ph khai đó là ma tuý ngựa mua về để sử dụng.

Tại Kết luận giám định số 286/KL-KTHS ngày 18/01/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh kết luận: 02 viên nén hình tròn màu hồng bên trong 01 túi nilon màu trắng có viền màu trắng có khối lượng là 0,1767 gam; Là ma túy; Loại ma túy: Methamphetamine. Methamphetamine là chất ma túy được quy định tại Nghị định 57/2022/NĐ-CP, ngày 25/8/2022 của Chính Phủ ban hành các danh mục chất ma túy và tiền chất.

Với nội dung trên, tại bản Cáo trạng số 26/CT-VKSTT ngày 7/4/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận Thành đã truy tố Lô Văn Ph về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ Luật hình sự.

Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, Ph khai bản thân là người nghiện ma tuý từ năm 2020. Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 16/01/2023 khi Ph đang ăn cơm ở quán thì có một thanh niên đến và rủ Ph sử dụng ma tuý, Ph đồng ý. Sau đó nam thanh niên bảo Ph ra sân bóng thuộc thôn Tam Á, xã Gia Đông để lấy ma tuý về cùng sử dụng và nói tiền đã trả cho người bán ma tuý rồi. Khi đến nơi Ph thấy có một nam thanh niên đi đến chỗ Ph và đưa cho Ph 01 túi nilon màu trắng trong có 02 viên nén hình tròn màu hồng, Ph biết là ma tuý nên cầm cất vào túi quần phía trước bên trái Ph đang mặc. Sau đó Ph đi bộ về phòng trọ thì bị lực lượng Công an bắt quả tang thu giữ vật chứng.

Trong phần tranh tụng, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận Thành thực hành quyền công tố tại phiên toà trình bày bản luận tội. Sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, cũng như qua xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lô Văn Ph phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ Luật hình sự xử phạt Ph từ 12 tháng đến 18 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 16/01/2023. Miễn áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo.

Áp dụng Điều 47 Bộ Luật hình sự; Điều 106 Bộ Luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu huỷ mẫu vật còn lại sau giám định trong phong bì thư được dán kín, được niêm phong theo đúng quy định, bên ngoài có chữ ký của những người tham gia niêm phong, có dấu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh, trong phong bì thư có vỏ đựng mẫu vật và 0,0781 gam mẫu vật còn lại sau giám định, mặt trước phong bì thư có ghi “Cơ quan CSĐT-CAH Thuận Thành mẫu vật còn lại sau giám định trong vụ Lô Văn Ph, sinh năm 2004 trú tại bản Xốp Cháo, xã Lượng Minh, huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An có hành vi phạm tội về ma tuý”.

Về án phí do bị cáo là dân tộc thiểu số, điều kiện kinh tế khó khăn nên miễn án phí cho bị cáo.

Bị cáo Ph nhận tội, không tham gia tranh luận đối với luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Người bào chữa cho bị cáo Ph cũng xác định bị cáo đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,1767 gam chất ma tuý Methamphetamine, nên hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ Luật hình sự đúng như bản Cáo trạng đã truy tố. Tuy nhiên quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, bị cáo lại là người dân tộc thiểu số nên việc nhận thức pháp luật còn hạn chế, gia đình bị cáo sinh sống trong vùng đặc biệt khó khăn nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ Luật hình sự, để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và không áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền cũng như miễn cho bị cáo tiền án phí. Kiểm sát viên tranh luận với ý kiến của người bào chữa cho rằng bị cáo tuy là người dân tộc nhưng bị cáo cũng đã học hết lớp 10, có đủ nhận thức để nhận biết pháp luật nhưng vẫn cố ý phạm tội. Pháp luật cũng không quy định tình tiết người dân tộc thiểu số, người sống trong vùng điều kiện khó khăn là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên bị cáo không được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ Luật hình sự.

Trong lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm trở về gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về việc thực hiện trình tự tố tụng đối với vụ án:

Quá trình thực hiện thủ tục tố tụng để giải quyết vụ án, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Thuận Thành (nay là thị xã Thuận Thành), Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận Thành, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ Luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về nội dung vụ án:

. Lời khai nhận tội của bị cáo Lô Văn Ph tại Cơ quan điều tra và tại phiên toà ngày hôm nay phù hợp với nhau, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang; phù hợp với thời gian, địa điểm, tang vật thu được tại hiện trường, lời khai của những người làm chứng, kết luận giám định và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án xác định được: Vào hồi 14 giờ 00 phút ngày 16/01/2023, tại khu vực đường liên thôn thuộc thôn Tam Á, xã Gia Đông, huyện Thuận Thành (nay là khu phố Tam Á, phường Gia Đông, thị xã Thuận Thành), tỉnh Bắc Ninh. Tổ công tác của Công an xã Gia Đông đã bắt quả tang Lô Văn Ph đang có hành vi tàng trữ trái phép 0,1767 gam ma túy chất Methamphetamine tại túi quần phía trước bên trái Ph đang mặc với mục đích để sử dụng cho bản thân. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận hành vi của Lô Văn Ph phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, tội phạm được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ Luật hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

. Về nguyên nhân, mục đích, tính chất của hành vi phạm tội: Nguyên nhân dẫn đến hành vi phạm tội là do bị cáo không chịu tu dưỡng bản thân, bị cáo là người có dùng chất ma tuý, bị cáo phạm tội tàng trữ ma tuý với mục đích sử dụng cho bản thân. Tuy nhiên hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho cộng đồng và xã hội, đã xâm phạm chế độ độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, gây tác hại lớn về nhiều mặt cho xã hội, về sâu xa nó cũng là nguyên nhân của các tệ nạn xã hội khác như trộm cắp, cướp giật cũng như gây lên mâu thuẫn trong gia đình, để lại hệ lụy xấu cho xã hội. Do vậy hành vi của bị cáo phải được xử lý nghiêm khắc bằng pháp luật hình sự mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Bị cáo phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy là loại tội phạm mà cả xã hội đang lên án mạnh mẽ và tích cực đấu tranh. Do vậy, cần xử phạt bị cáo với mức án nghiêm khắc, phạt cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục chung, cải tạo riêng.

. Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thì thấy: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiện hình sự nào. Về tình tiết giảm nhẹ, tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Vì thế bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ Luật hình sự. Đối với ý kiến của người bào chữa cho rằng bị cáo là người dân tộc thiểu số nên nhận thức pháp luật có hạn chế, cũng như bị cáo sinh sống ở vùng có điều kiện khó khăn do đó cần xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ Luật hình sự. Hội đồng xét xử thấy rằng bị cáo cũng đã học hết lớp 10/12 nên bị cáo có nhận thức đầy đủ, mặt khác pháp luật cũng không quy định tình tiết người phạm tội là người dân tộc thiểu số, tình tiết sinh sống trong vùng có điều kiện khó khăn là tình tiết giảm nhẹ hình phạt nên không chấp nhận ý kiến này của người bào chữa. Tuy nhiên đây cũng là những tình tiết để Hội đồng xét xử xem xét khi lượng hình.

Ngoài hình phạt chính điều luật còn quy định có thể áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo. Xét thấy bị cáo là người có dùng ma tuý, điều kiện kinh tế cũng có khó khăn nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

. Đối với nam thanh niên đã rủ Ph cùng sử dụng ma tuý và nam thanh niên đã đưa ma tuý cho Ph tại sân bóng, do Ph không biết họ tên, tuổi và địa chỉ cụ thể của hai nam thanh niên này. Vì vậy, Cơ quan CSĐT Công an thị xã Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh tiếp tục xác minh, khi nào làm rõ được sẽ xem xét sử lý sau.

. Tang vật vụ án: Tịch thu tiêu huỷ số mẫu vật còn lại sau giám định trong phong bì thư được dán kín và niêm phong, bên ngoài có chữ ký của những người tham gia niêm phong, có dấu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh, trong phong bì thư có vỏ đựng mẫu vật và 0,0781 gam mẫu vật còn lại sau giám định, mặt trước phong bì thư có ghi “Cơ quan CSĐT-CAH Thuận Thành mẫu vật còn lại sau giám định trong vụ Lô Văn Ph, sinh năm 2004 trú tại bản Xốp Cháo, xã Lượng Minh, huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An có hành vi phạm tội về ma tuý”.

. Về án phí: Bị cáo sinh sống trong vùng có điều kiện kinh tế khó khăn nên miễn án phí cho bị cáo.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Lô Văn Ph phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 47 Bộ Luật hình sự. Điều 106; Điều 136; Điều 329 Bộ Luật tố tụng hình sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, tuyên xử.

1. Xử phạt Lô Văn Ph 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 16/01/2023.

Quyết định tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án 16/5/2023 để đảm bảo thi hành án.

2. Về vật chứng của vụ án: Tịch thu tiêu huỷ số mẫu vật còn lại sau giám định trong phong bì thư được dán kín, niêm phong theo đúng quy định, bên ngoài có chữ ký của những người tham gia niêm phong, có dấu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh, trong phong bì thư có vỏ đựng mẫu vật và 0,0781 gam mẫu vật còn lại sau giám định, mặt trước phong bì thư có ghi “Cơ quan CSĐT-CAH Thuận Thành mẫu vật còn lại sau giám định trong vụ Lô Văn Ph, sinh năm 2004 trú tại bản Xốp Cháo, xã Lượng Minh, huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An có hành vi phạm tội về ma tuý” (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 13/4/2023 giữa Công an thị xã Thuận Thành với Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh).

3. Án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Ph.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Ph được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ