vanban.org

Bản án 35/2023/HSST — Hình sự

TAND huyện Mê Linh, TP. Hà Nội Tuyên án 21/04/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Duy H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.

Áp dụng: Khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Xử phạt: Nguyễn Duy H 36 (ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 27/12/2022. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Duy H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN M
THÀNH PHỐ H

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

----***---
Bản án số: 35/2023/HSST
Ngày: 21/4/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN M, THÀNH PHỐ H

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Minh Đăng Hội thẩm nhân dân: 1- Ông Kiều Xuân Mai 2- Bà Dương Thị Kim Lan

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Thanh Ân – Thư ký TAND huyện M.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện M tham gia phiên toà: Ông Đàm Duy Thức – Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 04 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện M xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 26/2023/HSST ngày 22 tháng 03 năm 2023, đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Duy H, sinh năm 1971; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ dân phố HB, thị trấn TL, BX, VP. Nơi ở hiện nay: Tổ dân phố Đại Phúc 2, thị trấn Đ, BX, VP. Nghề ngH1: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 7/12; con ông Nguyễn Duy L – đã chết và bà Nguyễn Thị T – đã chết; vợ Vũ Thị H, sinh năm 1972; có 01 con sinh năm 1998; Tiền án, tiền sự: Không. Về nhân thân:

- Ngày 20/8/2015, bị TAND huyện BX, VP xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, bản án số 32/2015/HSST, đến ngày 29/8/2017 chấp hành xong hình phạt tù (đã được xóa án tích).

- Ngày 07/9/2018, bị TAND thành phố VY, VP xử phạt 01 năm 09 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, bản án số 105/2018/HSST, đến ngày 14/9/2020 chấp hành xong hình phạt tù (đã được xóa án tích).

- Ngày 20/1/2011, bị Chủ tịch UBND huyện BX, VP ra quyết định số 303/QĐ-UBND, đưa đi cai nghiện bắt buộc, thời hạn 24 tháng, đến ngày 23/1/2013 chấp hành xong (đã được xóa)

Bị bắt tạm giữ từ ngày 27/12/2022, tạm giam từ ngày 30/12/2022, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 1 - Công an thành phố H. (có mặt)

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Chị Nguyễn Thị C, sinh năm 1983. Địa chỉ: Thôn T, xã H, huyệnC, tỉnh T. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 18h00 ngày 26/12/2022, tổ công tác Công an xã TV, huyện M phát hiện bắt quả tang Nguyễn Duy H có hành vi mua bán trái phép chất ma túy, tại thôn V, xã L, huyện M, thành phố H.

Qúa trình điều tra, Nguyễn Duy H khai nhận: Do bản thân nghiện ma túy nên thường xuyên đi mua ma túy về để sử dụng và bán lại cho các đối tượng nghiện hút khác nhằm thu lời. Khoảng 8h00 ngày 26/12/2022, H điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu đỏ đen BKS 22B1 – 748.47 từ nhà đến khu vực bến xe thành phố PY, VP để tìm mua ma túy. Tại đây, H gặp và mua của một người thanh niên không quen biết được 01 túi ma túy Heroine với giá 300.000đ. Sau đó, H đi về khu vực cánh đồng gần nhà và lấy một phần số ma túy chia làm 02 gói nhỏ và đã sử dụng 01 gói. Số ma túy còn lại gồm 01 gói nhỏ và 01 túi nilon H cất giấu vào trong túi quần đang mặc. Khoảng 16h00 cùng ngày, H đang ở nhà thì nhận được điện thoại từ số 0387.798.166 của một người thanh niên không rõ tên tuổi địa chỉ, gọi đến số điện thoại 0961.468.229 của H hỏi mua 200.000đ tiền ma túy. H đồng ý và hẹn nam thanh niên đến đầu thôn V, xã L, huyện M để bán ma túy. Sau đó, H điều khiển xe mô tô Yamaha Sirius BKS 22B1 – 748.47 từ nhà đi đến thôn V, xã L đứng chờ bán ma túy thì bị tổ công tác Công an xã TV phát hiện bắt giữ quả tang.

Vật chứng: Thu giữ của Nguyễn Duy H 01 túi nilon và 01 gói nhỏ nilon bên trong có chứa chất bột màu trắng; 01 điện thoại Nokia 105 màu đen bên trong lắp sim số 0961.468.229 số seri 3547.5382.303105; 01 xe mô tô Yamaha Sirius màu đỏ đen BKS 22B1 – 748.47, số khung RLCS5C6 HOFY 113494, số máy 5C6H 113504.

Ngày 27/12/2022, Cơ quan C sát điều tra tiến hành khám xét nơi ở của Nguyễn Duy H nhưng không thu giữ đồ vật, tài liệu gì liên quan vụ án.

Tại kết luận giám định số 48/KL-KTHS ngày 03/1/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố H giám định và kết luận: Chất bột màu trắng bên trong 01 túi nilon và 01 gói nilon thu giữ của Nguyễn Duy H là ma túy loại Heroine, khối lượng 0,742 gam. Qúa trình giám định, Cơ quan giám định lấy 0,045 gam làm mẫu giám định, phần còn lại 0,697 gam hoàn trả Cơ quan điều tra.

Đối với người thanh niên sử dụng số điện thoại 0387.798.166 để hỏi mua ma túy của H. Qúa trình điều tra xác định: Người đăng ký tên sử dụng số điện thoại là anh Đỗ Văn H1, sinh năm 1995, trú tại thôn V, xã L, huyện M. Anh H1 khai nhận không quen biết Nguyễn Duy H và không đăng ký sử dụng số điện thoại trên. Do vậy, không có căn cứ xử lý.

Đối với đối tượng bán ma túy cho Nguyễn Duy H, quá trình điều tra không xác định được tên tuổi địa chỉ, nên không có căn cứ xử lý.

Tại bản cáo trạng số 31/CT-VKSML ngày 20 tháng 3 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện M truy tố Nguyễn Duy H về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”, theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo nhất trí với nội dung bản cáo trạng truy tố và khai nhận toàn bộ hành vi của mình phù hợp với nội dung bản cáo trạng đã truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm luận tội đối với bị cáo đề nghị: Tuyên bố Nguyễn Duy H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Xử phạt Nguyễn Duy H từ 36 đến 42 tháng tù. Vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu huỷ số ma túy đã thu giữ; tịch thu sung quỹ nhà nước 01 chiếc điện thoại; 01 chiếc xe mô tô thu giữ của Nguyễn Duy H.

Bị cáo nhất trí với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa và không có ý kiến tranh luận gì khác.

Bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan C sát điều tra, điều tra viên trong quá trình điều tra vụ án, quyết định tố tụng của Viện kiểm sát và hành vi tố tụng của Kiểm sát viên trong giai đoạn truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Qúa trình điều tra và tại phiên toà bị cáo không có ý kiến, không khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó các quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.

- Về hành vi của bị cáo:

Tại phiên toà bị cáo Nguyễn Duy H thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và khai nhận: Sáng ngày 26/12/2022, bị cáo đi xuống khu vực bến xe PY, VP và hỏi mua được 01 gói ma túy Heroine với giá 300.000đ của một người không quen biết. Sau khi mua được ma túy bị cáo đem về nhà và sử dụng một phần. Đến khoảng 16h00 cùng ngày thì có một người thanh niên không quen biết gọi điện hỏi mua 200.000đ ma túy và bảo đem xuống đầu thôn V, xã L. Sau đó bị cáo đã điều khiển xe mô tô đi xuống đầu thôn V để bán ma túy. Khi xuống đến đầu thôn V đang đứng chờ chưa kịp bán ma túy cho người thanh niên thì bị phát hiện bắt giữ. Xét lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với nội dung bản cáo trạng Viện kiểm sát truy tố, phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án, vật chứng vụ án đã được thu giữ và được cơ quan chuyên môn giám định và kết luận là chất ma túy Heroine, có khối lượng 0,742 gam. Hội đồng xét xử đủ căn cứ kết luận: Hành vi của bị cáo Nguyễn Duy H đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”, theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự, cụ thể điều luật quy định:

1- Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm;

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm an ninh trật tự và an toàn trong xã hội. Hành vi của bị cáo làm lan tràn tệ nạn nghiện hút ma túy trong xã hội, reo rắc cái chết trắng cho người khác. Từ tệ nạn về ma túy gây ra rất nhiều hậu quả xấu cho xã hội, là nguyên nhân để phát sinh ra nhiều loại tội phạm nguy hiểm khác. Về nhân thân tuy không có tiền án, tiền sự nhưng là người có nhân thân rất xấu, năm 2015 bị TAND huyện BX, VP xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, năm 2018, bị TAND thành phố VY, VP xử phạt 01 năm 09 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” (đều đã được xóa án tích), năm 2011 bị Chủ tịch UBND huyện BX, VP ra quyết định đưa đi cai nghiện bắt buộc (đã được xóa) nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân, vẫn tiếp tục lao vào con đường nghiện hút ma túy và thường đi mua ma túy về sử dụng và bán lại cho các đối tượng nghiện khác nhằm thu lời bất chính. Vì vậy hành vi của bị cáo cần xử phạt nghiêm, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới có điều kiện để cải tạo, giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội. Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo, đây là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, được Hội đồng xét xử xem xét để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi lượng hình.

- Vật chứng vụ án:

Đối với 0,697 gam ma túy Heroine do Cơ quan giám định hoàn lại mẫu vật cần tịch thu tiêu hủy;

Đối với 01 chiếc điện thoại Nokia thu giữ của bị cáo là công cụ thực hiện hành vi phạm tội cần tịch thu sung quỹ Nhà nước;

Đối với chiếc xe mô tô Yamaha Sirius màu đỏ đen BKS 22B1 – 748.47. Qúa trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai nhận mua lại của một người không nhớ tên tuổi và địa chỉ, với giá 4.000.000đ để sử dụng nhưng chưa sang tên chuyển chủ. Cơ quan điểu tra đã tiến hành tra cứu không có trong dữ liệu xe vật chứng. Cơ quan điều tra tiến hành xác minh nguồn gốc, chủ sở hữu đăng ký mang tên chị Nguyễn Thị C, hiện không xác định được chị Nguyễn Thị C ở đâu. Xác minh lấy lời khai anh Đỗ Quang N, sinh năm 1975, ở thôn T, xã K, huyện BX, VP, xác định chị C là vợ anh N và đã ly hôn năm 2022, sau khi ly hôn thì anh N sử dụng chiếc xe Yamaha Sirius màu đỏ đen BKS 22B1 – 748.47 của chị C theo thỏa thuận của hai vợ chồng, thời điểm năm 2022 anh N đã bán chiếc xe cho một người không nhớ tên tuổi địa chỉ với giá 4.000.000đ. Như vậy có cơ sở xác định chiếc xe trên chủ sở hữu của bị cáo Nguyễn Duy H, đây là phương tiện sử dụng vào việc phạm tội cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.

- Về án phí: Bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên!

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Duy H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.

Áp dụng: Khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Nguyễn Duy H 36 (ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 27/12/2022.

Vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS.

- Tịch thu tiêu huỷ: 0,697 gam ma túy Heroine do Cơ quan giám định hoàn lại mẫu vật;

- Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 điện thoại Nokia 105 màu đen bên trong lắp sim số 0961.468.229 số seri 3547.5382.303105; 01 xe mô tô Yamaha Sirius màu đỏ đen BKS 22B1 – 748.47, số khung RLCS5C6 HOFY 113494, số máy 5C6H 113504.

Số vật chứng trên theo biên bản giao vật chứng ngày 20/3/2023, giữa Công an huyện M và Chi cục thi hành án dân sự huyện M, H.

Án phí: Áp dụng điều 136 BLTTHS; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo những vấn đề liên quan đến quyền lợi nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ