- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Võ L - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? 1/ Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổi sung năm 2017.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐỨC PHỔ TỈNH QUẢNG NGÃI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 35/2023/HS-ST Ngày 22/8/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐỨC PHỔ - TỈNH QUẢNG NGÃI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Kha
Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thanh Tiếp và ông Phạm Hòa
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hòa – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi.
Đại diện viện kiểm sát nhân dân thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên tòa: Ông Ngô Thanh Hiển– Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 8 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Đức Phổ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 35/2023/TLST-HS ngày 06/7/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 34/2023/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 8 năm 2023 đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Thanh B– sinh ngày 26 tháng 3 năm 1994 tại tỉnh Quảng Ngãi.
Nơi cư trú: Tổ dân phố A, phường Ng, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi; nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Tùng L –sinh năm 1968 và bà Trần Thị Th - sinh năm 1975; vợ, con: Chưa có; tiền sự: Ngày 02/12/2022 bị Công an phường Ng, thị xã Đ xử phạt hành chính bằng hành thức phạt tiền về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy đồng thời áp dụng biện pháp quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy tại địa phương; tiền án: 01 tiền án, ngày 29/10/2021 bị Tòa án nhân dân thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi tuyên phạt 01 năm 03 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, bị cáo đã chấp hành xong hình phạt ngày 08/7/2022 nhưng chưa được xóa án tích; nhân thân: Năm 2016 bị Ủy ban nhân dân phường 12, quận 10, thành phố Hồ Chí Minh quyết định đưa vào cơ sở xã hội để quản lý cắt cơn cai nghiện ma túy. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/01/2023 cho đến nay; hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi; có mặt tại phiên tòa.
2. Nguyễn Võ L– sinh ngày 02 tháng 01 năm 1994 tại tỉnh Quảng Ngãi.
Nơi cư trú: Tổ dân phố A, phường Ng, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi.
Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Đ –sinh 1958 và bà Võ Thị Ng - sinh năm 1963; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Chưa bị xử lý về hành chính và hình sự. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/01/2023 cho đến nay; hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi; có mặt tại phiên tòa
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Cao Văn S –sinh năm 1986
Nơi cư trú: Tổ dân phố B, phường Phổ M, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi. Vắng mặt
Người làm chứng:
- Ông Trần Anh Đức – sinh năm 2004
Nơi cư trú: Tổ dân phố C, phường Ng, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi
- Bà Nguyễn Thị Hồng Ph – sinh năm 2004
Nơi cư trú: Tổ dân phố D, phường Ng, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi
- Bà Phạm Nữ Hà Ng – sinh năm 1985
Nơi cư trú: Tổ dân phố D, phường Ng, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi
- Ông Trần Văn Cường – sinh năm 1996
Nơi cư trú: Tổ dân phố H, phường Phổ H, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi
Tất cả những người làm chứng đều vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắc như sau:
Khoảng 18 giờ 40 phút ngày 11/01/2023, Nguyễn Võ L nhắn tin qua mạng xã hội Facebook bảo bạn mình là Nguyễn Thanh B (SN: 1994, trú cùng tổ dân phố) ra gặp đối tượng tên Ng ở phường Phổ V, thị xã Đ lấy giúp cho L ma túy về sử dụng (L đã trả tiền mua ma túy cho Ng). Sau đó L nhắn tin rủ Trần Văn C (SN: 1996, trú tại TDP H, phường Phổ H) đến nhà Cao Văn Sa (SN 1986) ở TDP B, phường Phổ M, thị xã Đ chơi.
Nguyễn Võ L điều khiển xe mô tô BKS 76H1 – 05707 đến nhà S trước, khi vào nhà thấy S đang ngủ trong phòng ngủ (do Sanh đã sử dụng ma túy dạng “cỏ mỹ” với Trần Anh Đ – Sinh năm 2004, trú tại TDP C – phường Ng từ chiều tối nên dẫn đến “phê” ma túy) nên L đi xuống khu vực bếp thì thấy một dụng cụ sử dụng ma túy (nỏ thủy tinh) để tại góc bếp, trong “nỏ” còn ma túy “đá” nên L ra tiệm tạp hóa gần nhà S để mua 02 chai nước suối loại 500ml, 01 gói thuốc lá hiệu Saigon rồi quay lại nhà của Sanh. L gắn “nỏ” có chứa ma túy vào chai nước suối và ngồi sử dụng ma túy một mình. Một lúc sau Trần Văn C đến nhà Cao Văn S, khi vào nhà thì C đến vị trí L đang sử dụng ma túy để nói chuyện (cả hai nói về việc C nợ tiền của L nhưng chưa trả), lúc này C không sử dụng ma túy cùng L vì trước đó vừa sử dụng ma túy “đá” ở phường Phổ V. Trong thời gian này, Nguyễn Thanh B điều khiển xe BKS 76H1 – 216.56 ra phường Phổ V lấy ma túy được chứa trong 01 túi nilon hàn kín do đối tượng bán ma túy giao, B cất vào túi áo khoác rồi đến quán Internet ở TDP A, phường Ng ngồi nhắn tin Facebook cho L (B không có điện thoại, phải vào quán Internet để liên lạc với L), L bảo B đến nhà Cao Văn S. B điều khiển xe đi nhưng trên đường đi đã xé tờ giấy bạc trong gói thuốc mang trên người, đổ một ít ma túy từ túi nilon qua tờ giấy bạc, sau đó gói tờ giấy bạc lại và dùng bật lửa hàn sơ túi nilon lại (mục đích sang bớt ma túy vì B nghĩ rằng tại nhà S có nhiều người nếu sử dụng sẽ hết nên lấy bớt để sử dụng sau với L) và cất túi nilon cùng tờ giấy bạc có chứa ma túy vào túi áo khoác xám B đang mặc trên người rồi điều khiển xe đến nhà Cao Văn S.
Khi đến nơi Nguyễn Thanh B lấy gói nilon chứa ma túy bỏ trước vị trí vị trí nơi L đang ngồi chơi game, B cởi áo khoác đặt trên kệ bếp rồi cầm bộ dụng cụ còn một ít ma túy mà L sử dụng để hút một hơi, sau đó đi đến bàn máy tính giữa nhà ngồi chơi game, còn L và C ngồi tại khu vực bếp. Khoảng 21 giờ 15 phút cùng ngày, lực lượng Công an thị xã Đức Phổ trong quá trình tuần tra, kiểm tra thì phát hiện vụ việc nên tiến hành làm rõ, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Nguyễn Võ L và Nguyễn Thanh B về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, tạm giữ, niêm phong các vật chứng và các đồ vật có liên quan trong vụ việc để phục vụ công tác giám định, điều tra.
Qua Kết luận giám định số 54/KL-KTHS ngày 13/01/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ngãi xác định:
- Chất rắn, dạng tinh thể màu trắng bên trong tờ giấy bạc (thu trong áo khoác của Nguyễn Thanh B, đây là ma túy Bình đã sang bớt từ túi nilon chứa ma túy của Nguyễn Võ L) gửi giám định là ma túy, loại: Methamphetamine, có khối lượng mẫu là 0,11 gam.
- Chất rắn, dạng tinh thể màu trắng bên trong túi nilon (ma túy Nguyễn Thanh B mang về đưa cho Nguyễn Võ L) là ma túy, loại: Methamphetamine, khối lượng mẫu là 1,25 gam.
- Chất rắn màu trắng đục bám dính bên trong nỏ thủy tinh (dụng cụ chứa ma túy mà Nguyễn Võ L đã sử dụng) gửi giám định là ma túy, loại: Methamphetamine. Do chất bám dính ở dạng vết nên không xác định được khối lượng.
- Chất rắn màu trắng đục bám dính bên trong 07 đoạn ống thủy tinh (thu tại nhà Sanh trong quá trình khám xét) gửi giám định là ma túy, loại: Methamphetamine. Do chất bám dính ở dạng vết nên không xác định được khối lượng.
Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục II, STT 247, Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính Phủ.
Qua Kết luận giám định số 265/KL-KTHS ngày 23/02/2023 của Phân viện KHHS tại TP. Đà Nẵng xác định:
- Mẫu thảo mộc khô (thu giữ của Cao Văn S) có tìm thấy chất ma túy, loại: MDMB-04en-PINACA và ADB-BUTINACA, khối lượng mẫu: 0,21gam.
- Mẫu thảo mộc khô bám dính bên trong 02 túi nilon (thu giữ tại nhà của Cao Văn Sanh) không tìm thấy chất ma túy.
Cáo trạng số: 31/ CT - VKS ngày 05/7/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi đã truy tố Nguyễn Võ L, Nguyễn Thanh B về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đức Phổ đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng:
- Đối với bị cáo Nguyễn Thanh B: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổi sung năm 2017 xử phạt bị cáo từ 18 đến 24 tháng tù.
- Đối với bị cáo Nguyễn Võ L: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổi sung năm 2017 để xử bị cáo từ 12 đến 15 tháng tù.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự
- Đề nghị tịch thu tiêu hủy: 01 chai nước suối hiệu thạch bích loại 500ml, trên nắp chai gắn ống hút nhựa màu cam trắng được đựng trong 01 túi niêm phong mã số PS2 2007929, có chữ ký xác nhận của Võ Tấn T, Ngô Thanh H, Trần Văn C, Nguyễn Võ L; 04 kit test hiệu Amvi được đựng trong túi niêm phong mã số NS4A 183190, có chữ ký xác nhận của Nguyễn Trung H, Cao Văn S, Nguyễn Võ L, Nguyễn Thanh B, Trần Văn C; 04 bật lửa ga, trong đó một bật lửa màu vàng được nối dài phần khò gas bằng giấy bạc; 01 chai nước suối hiệu thạch bích loại 500ml còn nguyên; 01 gói thuốc lá hiệu SAIGON còn nguyên; 02 kéo lưỡi kim loại, cán bằng nhựa; 1,00g ma túy loại Methamphetamine, 01 nỏ thủy tinh, 07 đoạn ống thủy tinh, 01 túi nilon, 02 túi nilon không rõ hình dạng được đựng trong một bì niêm phong mặt trước có chữ CÔNG AN TỈNH QUẢNG NGÃI PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ, số 54/KTHS, mặt sau có chữ các chữ ký giáp lai của ông Võ Tấn T, Huỳnh Minh Nh, Nguyễn Ngọc Đ và ba dấu tròn giáp lai của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ngãi
- Đề nghị tịch thu sung Ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu SAMSUNG màu xanh, có sim số 0909.870369 (đây là điện thoại Nguyễn Võ L liên lạc, mua ma túy);
- Đề nghị trả lại cho bị cáo Nguyễn Võ L: 01 điện thoại di động hiệu SAMSUNG màu xanh, kèm sim số 0967.685531 của Nguyễn Võ L không sử dụng vào mục đích phạm tội và tiền Việt Nam 9.560.000đồng.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra công an thị xã Đức Phổ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đức Phổ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo, không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo Nguyễn Võ L, Nguyễn Thanh B khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Các bị cáo khai nhận để thỏa mãn nhu cầu của bản thân nên vào tối ngày 11/01/2023 các bị cáo đã thống nhất mua ma túy về tàng trữ để sử dụng. Theo kết luận giám định số 54/KLGĐ-PC09 ngày 13/01/2023 Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ngãi kết luận: Chất rắn, dạng hạt tinh thể màu trắng bên trong gói nilon gửi giám định là ma túy loại Methamphetam thu giữ của Nguyễn Thanh B là 0,11gam và thu giữ của Nguyễn Võ L 1,25 gam. Tổng cộng các bị cáo tàng trữ là 1,36 gam.
Tại Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ thì chất Methamphetamin là danh mục chất ma túy. Hành vi của các bị cáo tàng trữ 1,35 gam chất Methamphetamin không nhằm mục đích mua bán nên hành vi của các bị cáo đã phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Vì vậy cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đức Phổ truy tố các bị cáo có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Đây là vụ án đồng phạm nhưng đồng phạm giản đơn, không có sự câu kết chặt chẻ giữa các bị cáo. Bị cáo Nguyễn Thanh B thực hiện hành vi phạm tội với vai trò giúp sức cho bị cáo Nguyễn Võ L trong việc tàng trữ ma túy để sử dụng là 1,25 gam. Đối với số ma túy thu giữ trên người của bị cáo Nguyễn Thanh B 0,11gam mà bị cáo khai đã lấy ma túy từ túi nilon của bị cáo L mua với mục đích để sau này giữa bị cáo và bị cáo L sử dụng nhưng bị cáo Nguyễn Võ L không biết việc này nên 0,11gam ma túy này bị cáo phải chịu trách nhiệm và không tính vào lượng ma túy của bị cáo L.
Xét các bị cáo là công dân Việt Nam có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, có trình độ nhận thức về pháp luật và xã hội. Bị cáo tuổi đời còn trẻ, lẽ ra phải tu dưỡng bản thân để trở thành công dân có ích cho xã hội. Bị cáo thừa hiểu được rằng ma túy là một tệ nạn xã hội. Nhưng do ăn chơi lêu lỏng, xem thường pháp luật nên đã dẫn các bị cáo vào con đường phạm tội. Hành vi của các bị cáo gây hoang mang trong nhân dân, gây nguy hiểm cho xã hội. Vì vậy cần xử các bị cáo với mức án nghiệm khắc để giáo dục riêng và phòng ngừa tội phạm nói chung.
Đối với bị cáo Nguyễn Thanh B: Bị cáo từng bị áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc vào năm 2016. Bị cáo bị Tòa án nhân dân thị xã Đức Phổ xử phạt 15 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” chưa được xóa án tích. Sau khi chấp hành xong hình phạt tù, bản thân bị cáo không từ bỏ mà tiếp tục sử dụng ma túy. Ngày 02/12/2022 bị Công an phường Ng, thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi xử phạt vi phạm hành chính 1.500.000 đồng về hành vi “sử dụng trái phép chất ma túy”. Bị cáo mặc dù đã chấp hành xong hình phạt tù nhưng chưa được xóa án tích nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng là “Tái phạm” được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội nên phải xử bị cáo với mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo và xử bị cáo mức án cao hơn bị cáo Nguyễn Võ L.
Tuy nhiên, sau khi phạm tội bị cáo thành khẩn khai báo; bị cáo trước đây có tham gia nghĩa vụ quân sự và bị cáo có ông nội là những người có công cách mạng được Nhà nước tặng thưởng huân chương kháng chiến nên cần áp dụng điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017 để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Đối với bị cáo Nguyễn Võ L: Trong vụ án này bị cáo là người bỏ tiền ra để mua ma túy, sau đó nhờ bị cáo B đi nhận ma túy cho mình. Chính hành vi bỏ tiền mua ma túy của bi cáo nên mới phát sinh việc phạm tội của các bị cáo. Hảnh vi của bị cáo gây mất trật ở địa phương, gây hoang mang trong nhân dân. Vì vậy cần xử bị cáo với mức án tương xứng với tính chất và hành vi phạm tội của bị cáo.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng, từ trước đến nay bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, đây là lần đầu phạm tội. Sau khi phạm tội bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; gia đình bị cáo có công cách mạng. Bị cáo có ông nội là liệt sĩ, bà nội được Nhà nước tặng thưởng huân huy chương; bà ngoại của bị cáo được Nhà nước tặng danh hiệu Bà Mẹ Việt Nam Anh Hùng; cha bị cáo tham gia chiến trường K nên cần áp dụng điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Để phân hóa trách nhệm hình sự của đồng phạm theo quy định của Bộ luật hình sự, do đó cần xử bị cáo với mức án nhẹ hơn mức án bị cáo B.
Đối với Phạm Nữ Hà Ng và Nguyễn Thị Hồng Ph:
Người tên Ng mà bị cáo Nguyễn Võ L khai là người L liên lạc mua ma túy với giá 2.500.000đ và chuyển tiền mua ma túy cho Nguyễn Thị Hồng Ph là con gái của Ng. Quá trình điều tra thì họ tên đầy đủ là Phạm Nữ Hà Ng. Cơ quan điều tra đã sao kê tài khoản ngân hàng và làm việc với Ph, có sự việc L chuyển 3.000.000đ cho Ph. Tuy nhiên lúc này Ph đang ở thành phố Hồ Chính Minh, không biết chuyển tiền gì và L có ghi nội dung chuyển cho Ph “mua áo ấm mặc” 500.000đ và trả nợ cho Ng, tiến hành lấy lời khai thì Phạm Nữ Hà Ng phủ nhận việc bán ma túy cho L và B, không biết việc L chuyển 2.500.000đ cho Ph để trả cho Ng và Nguyễn Thanh B khai khi nhận ma túy thì trời tối không nhìn rõ mặt người giao ma túy. Đối với tài khoản Zalo có tên “Đại Dương” thì Phạm Nữ Hà Ng khai có cầm điện thoại của một người tên Dương ở Mộ Đức và lấy điện thoại này nhắn tin Zalo với L chứ Ng không có tài khoản Zalo “Đại Dương”. Từ các tài liệu đã thu thập nhận thấy không đủ căn cứ để truy cứu Phạm Nữ Hà Ng về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Cơ quan CSĐT Công an thị xã sẽ tiếp tục điều tra, xác minh, xử lý sau.
Đối với Cao Văn S:
- Khi Nguyễn Võ L vào nhà S thì S đang ngủ, các đối tượng tự ý đến nhà S chơi và sử dụng ma túy. Vì vậy không có căn cứ để truy cứu Cao Văn S về hành vi “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” hoặc hành vi “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”.
- Đối với hành vi sử dụng ma túy dạng “cỏ Mỹ” của Cao Văn S và Trần Anh Đ tại nhà của Cao Văn S chiều tối ngày 11/01/2023 và các lần khác theo lời khai của S và Đ. Do chỉ có lời khai nhưng lời khai cũng không đồng nhất, test nhanh ma túy đối với Đ cho kết quả âm tính, ngoài ra không có chứng cứ vật chất nào khác nên không đủ căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Cao Văn S về tội “Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
- Việc ngày 11/01/2023 Cao Văn S có hành vi tàng trữ 0, 21g ma túy (dạng cỏ), loại MD-4en-PINACA và ADB-BUTINACA để sử dụng. Do khối lượng tàng trữ ma túy không đủ mức định lượng và cũng không thuộc các trường hợp khác theo khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Do đó hành vi của Cao Văn S không cấu thành tội phạm. Công an thị xã Đức Phổ đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Cao Văn Sanh.
Đối với việc Nguyễn Võ L nhắn tin rủ Trần Văn C đến nhà Cao Văn S chơi và bảo Nguyễn Thanh B đi lấy ma túy cho mình: Sau đó L có lấy ma túy và dụng cụ sử dụng ma túy tại nhà Cao Văn S ra sử dụng, Trần Văn C đến nhưng không sử dụng ma túy vì đã sử dụng trước đó tại phường Phổ V, khi gặp L thì cả 02 chỉ nói việc nợ tiền, Nguyễn Thanh B đến và có sử dụng một hơi ma túy nhưng lúc này Lệnh đang nhìn vào điện thoại chơi game, không biết B sử dụng. Nhận thấy L không có hành vi rủ rê, lôi kéo, cung cấp ma túy, dụng cụ,.... Do đó không có căn cứ truy cứu Nguyễn Võ L về hành vi “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Trần Văn C vào chiều ngày 11/01/2023 tại phường Phổ V: Công an thị xã Đức Phổ đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Trần Văn C.
Đối với việc Cao Văn S có hành vi tàng trữ 07 dụng cụ nghi để phục vụ việc sử dụng ma túy là các ống thủy tinh (trong đó có 04 ống thẳng, 02 ống dạng cong, 01 ống cong có một đầu hình phễu), nhận thấy những ống thủy tinh này đã bị gãy, vỡ không còn hình dạng ban đầu, chỉ có 01 ống thủy tinh cong có một đầu hình phễu là có đủ tính năng để sử dụng ma túy. Do số lượng dưới 06 đơn vị dụng cụ nên không đủ căn cứ xử lý Cao Văn S về hành vi tàng trữ phương tiện, dụng cụ sử dụng trái phép chất ma túy
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sữa đổi bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
- Tịch thu tiêu hủy: 01 chai nước suối hiệu thạch bích loại 500ml, trên nắp chai gắn ống hút nhựa màu cam trắng được đựng trong 01 túi niêm phong mã số PS2 2007929, có chữ ký xác nhận của Võ Tấn T, Ngô Thanh H, Trần Văn C, Nguyễn Võ L; 04 kit test hiệu Amvi được đựng trong túi niêm phong mã số NS4A 183190, có chữ ký xác nhận của Nguyễn Trung H, Cao Văn S, Nguyễn Võ L, Nguyễn Thanh B, Trần Văn C; 04 bật lửa ga, trong đó một bật lửa màu vàng được nối dài phần khò gas bằng giấy bạc; 01 chai nước suối hiệu thạch bích loại 500ml còn nguyên; 01 gói thuốc lá hiệu SAIGON còn nguyên; 02 kéo lưỡi kim loại, cán bằng nhựa; 1,00g ma túy loại Methamphetamine, 01 nỏ thủy tinh, 07 đoạn ống thủy tinh, 01 túi nilon, 02 túi nilon không rõ hình dạng được đựng trong một bì niêm phong mặt trước có chữ CÔNG AN TỈNH QUẢNG NGÃI PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ, số 54/KTHS, mặt sau có chữ các chữ ký giáp lai của ông Võ Tấn T, Huỳnh Minh Nh, Nguyễn Ngọc Đ và ba dấu tròn giáp lai của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ngãi
- Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu SAMSUNG màu xanh, có sim số 0909.870369 (đây là điện thoại Nguyễn Võ L liên lạc, mua ma túy);
- Trả lại cho bị cáo Nguyễn Võ L: 01 điện thoại di động hiệu SAMSUNG màu xanh, kèm sim số 0967.685531 của Nguyễn Võ L không sử dụng vào mục đích phạm tội và tiền Việt Nam 9.560.000đồng.
Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/UBTVQH 14 ngày 30/ 12/ 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Buộc các bị cáo Nguyễn Võ L, Nguyễn Thanh B mỗi bị cáo nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Xét đề nghị của Viện kiểm sát là hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1/ Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổi sung năm 2017.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh B 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 11/01/2023.
2/ Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổi sung năm 2017.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Võ L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
Xử phạt bị cáo Nguyễn Võ L 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 11/01/2023.
3/ Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 46, 47 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017
- Tịch thu tiêu hủy: 01 chai nước suối hiệu thạch bích loại 500ml, trên nắp chai gắn ống hút nhựa màu cam trắng được đựng trong 01 túi niêm phong mã số PS2 2007929, có chữ ký xác nhận của Võ Tấn T, Ngô Thanh H, Trần Văn C, Nguyễn Võ L; 04 kit test hiệu Amvi được đựng trong túi niêm phong mã số NS4A 183190, có chữ ký xác nhận của Nguyễn Trung H, Cao Văn S, Nguyễn Võ L, Nguyễn Thanh B, Trần Văn C; 04 bật lửa ga, trong đó một bật lửa màu vàng được nối dài phần khò gas bằng giấy bạc; 01 chai nước suối hiệu thạch bích loại 500ml còn nguyên; 01 gói thuốc lá hiệu SAIGON còn nguyên; 02 kéo lưỡi kim loại, cán bằng nhựa; 1,00g ma túy loại Methamphetamine, 01 nỏ thủy tinh, 07 đoạn ống thủy tinh, 01 túi nilon, 02 túi nilon không rõ hình dạng được đựng trong một bì niêm phong mặt trước có chữ CÔNG AN TỈNH QUẢNG NGÃI PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ, số 54/KTHS, mặt sau có chữ các chữ ký giáp lai của ông Võ Tấn T, Huỳnh Minh Nh, Nguyễn Ngọc Đ và ba dấu tròn giáp lai của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ngãi
- Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu SAMSUNG màu xanh, có sim số 0909.870369 (đây là điện thoại Nguyễn Võ L liên lạc, mua ma túy);
- Trả lại cho bị cáo Nguyễn Võ L: 01 điện thoại di động hiệu SAMSUNG màu xanh, kèm sim số 0967.685531 của Nguyễn Võ L không sử dụng vào mục đích phạm tội
Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 10/8/2023 giữa Công an thị xã Đức Phổ và Chi cục thi hành án dân sự thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi
Trả lại cho bị cáo Nguyễn Võ L tiền Việt Nam 9.560.000đồng. Số tiền này hiện đang tạm giữ trong tài khoản số 3949.0.1043763.00000 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi tại Kho bạc Nhà nước thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi.
4/ Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Buộc các bị cáo Nguyễn Võ L, Nguyễn Thanh B mỗi bị cáo phải nộp 200.000đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
5/ Về quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Võ L, Nguyễn Thanh B có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Ông Cao Văn S có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ/
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Quảng Ngãi; - VKSND tỉnh Quảng Ngãi; - Sở tư pháp tỉnh Quảng Ngãi; - VKSND TX. Đức Phổ; - Cơ quan CSĐT công an TX. Đức Phổ; - Cơ quan THAHS công an TX. Đức Phổ; - Chi cục THADS TX. Đức Phổ; - Bị cáo; - Người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Nguyễn Minh Kha |