vanban.org

Bản án 35/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Thuận An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 14/04/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tạm giam bị cáo Nguyễn Chí T (tên gọi khác: Nhí), sinh năm: 1998 tại

tỉnh An Giang; nơi cư trú: Ấp Hưng Tân, xã Phú Hưng, huyện Phú Tân, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: không. Bị Toà án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo Nguyễn Chí T 01 (một) năm 03 (ba) Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Chí T 249 - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tạm giam bị cáo Nguyễn Chí T (tên gọi khác: Nhí), sinh năm: 1998 tại
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 109 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 113 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THUẬN AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƯƠNG
Bản án số: 35/2023/HS-ST
Ngày: 15-02-2023.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Châu Thị Hoài Phương.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Thiện

Ông Lê Văn Công.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Nghĩa - Thư ký Toà án nhân dân thành phố

Thuận An, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương

tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Chiến - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân thành phố Thuận An, tỉnh

Bình Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 373/2022/HSST ngày 15 tháng 12 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 22/2023/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 02 năm 2023 đối với bị cáo:

Nguyễn Chí T (tên gọi khác: Nhí), sinh năm: 1998 tại tỉnh An Giang; nơi cư trú:

Ấp Hưng Tân, xã H, huyện P, tỉnh G; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Hoà hảo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn N, sinh năm: 1963 và bà Ngô Thị Tuyết M, đã chết.

Tiền án, tiền sự: Không có.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/7/2022 cho đến nay. Bị cáo vắng mặt,

có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.

- Người chứng kiến: Nguyễn Kim H; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án

được tóm tắt như sau:

Khoảng 06 giờ 15 phút ngày 25/7/2022, bị cáo Nguyễn Chí T đang chạy bộ đến

khu vực trước tiệm cầm đồ Đạt Thành Công, địa chỉ số 01/62 khu phố Hòa Lân 2, phường Thuận Giao, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương thì lực lượng Công an phường Thuận Giao thấy nghi vấn nên tiến hành kiểm tra. Qua kiểm tra, phát hiện bên trong túi xách màu trắng xám của bị cáo đang đeo trên người có 01 (một) túi nylon miệng kéo dính viền màu xanh chứa tinh thể màu trắng (nghi vấn ma túy), bị cáo khai nhận tinh thể màu trắng trên là ma túy đá cất giấu để sử dụng nên lực lượng Công an tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, tạm giữ bị cáo để điều tra xử lý.

Tang vật thu giữ: 01 (một) túi nylon miệng kéo dính viền màu xanh chứa tinh

thể màu trắng; 01 (một) túi xách màu trắng xám.

Quá trình điều tra, bị cáo Thiện khai nhận: Ma tuý bị thu giữ là của bị cáo. Bị cáo

đã mua ma tuý từ 01 (một) người phụ nữ tên Thảo (khoảng 28 tuổi, dáng người ốm, cao khoảng 1,7 mét, nói giọng Miền Nam) tại khu vực đường 22/2 thuộc khu phố Hòa Lân 2, phường Thuận Giao, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương vào khoảng 05 giờ 30 phút ngày 25/7/2022.

Ngày 01/8/2022, Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương có kết luận

giám định số 365/KL-KTHS (MT) với nội dung: Mẫu tinh thể màu trắng trong 01 (một) túi nylon miệng kéo dính, khối lượng 0,2701 gam, loại Methamphetamine.

Tại bản Cáo trạng số 03/CT-VKS-TA ngày 13/12/2022 của Viện kiểm sát nhân

dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương đã truy tố bị cáo Nguyễn Chí T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên toà trình bày lời luận tội trong đó có nội

dung vẫn giữ nguyên quyết định cáo trạng đã truy tố, đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo gây ra và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt bị cáo Nguyễn Chí T từ 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù.

Về xử lý vật chứng: Đối với 01 (một) bì thư đã niêm phong ghi số 365/PC09 (là

mẫu vật hoàn lại sau giám định) của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương và 01 (một) túi xách màu trắng xám bị cáo sử dụng cất giấu ma túy là tang vật của vụ án không có giá trị sử dụng nên đề xuất tịch thu, tiêu hủy.

Đối với người phụ nữa tên Thảo bán ma túy cho bị cáo, Cơ quan cảnh sát điều

tra Công an thành phố Thuận An đã tiến hành xác minh tại khu vực trên nhưng không có thông tin đầy đủ về đối tượng này nên không có cơ sở để xác minh xử lý.

Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng theo nội dung Viện kiểm sát

truy tố. Bị cáo đã ăn năn hối cải và xin được giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được

tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Bị cáo Nguyễn Chí T có yêu cầu xét xử vắng mặt, đơn được Nhà tạm giữ

công an thành phố Thuận An xác nhận. Xét thấy đây là yêu cầu tự nguyện của bị cáo, việc vắng mặt của bị cáo không gây trở ngại cho việc xét xử phù hợp với điểm c, d khoản 2 Điều 290 của Bộ luật Tố tụng hình sự nên Hội đồng xét xử chấp nhận xét xử vắng mặt bị cáo.

Trong các giai đoạn tố tụng từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc việc

truy tố, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, cán bộ điều tra, Kiểm sát viên đều thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo không khiếu nại, tố cáo về các hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng là hợp pháp.

Tại bản tường trình; biên bản hỏi cung bị can; biên bản ghi lời khai (bút lục

67-78, 80-83): Bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương đã truy tố bị cáo. Lời nhận tội của bị cáo trong quá trình điều tra và tại đơn xin vắng mặt phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, lời khai của người làm chứng. Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 06 giờ 15 phút ngày 25/7/2022, bị cáo Nguyễn Chí T tại khu vực trước tiệm cầm đồ Đạt Thành Công, địa chỉ số 01/62, khu phố Hòa Lân 2, phường Thuận Giao, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương có hành vi tàng trữ trái phép 0,2701 gam ma túy, loại Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng thì bị phát hiện, bắt quả tang.

Do đó, cáo trạng truy tố bị cáo Nguyễn Chí T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất

ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Ma túy là loại chất gây nghiện nguy hiểm, người sử dụng ma túy sẽ bị ảnh

hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe, tính mạng đồng thời là nguyên nhân phát sinh những tội phạm khác, tạo nên gánh nặng cho xã hội, gây tha hóa biến chất một bộ phận nhân dân. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo nhận thức được hành vi cố ý tàng trữ trái phép chất ma túy nhằm mục đích sử dụng là vi phạm pháp luật Hình sự nhưng để thỏa mãn cơn nghiện, bị cáo đã cất giấu ma túy, hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ độc quyền về quản lý chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự, trị an tại địa phương. Vì vậy phải xét xử mức án tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm đảm bảo tính giáo dục riêng cho bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có. Về tình tiết giảm nhẹ

trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Đối chiếu với các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tính chất, mức độ hành vi phạm tội cũng như nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy hình phạt Viện Kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Đối với người phụ nữa tên Thảo bán ma túy cho bị cáo, hiện chưa xác định

được nhân thân lai lịch, khi nào xác minh được sẽ xử lý sau.

Về xử lý vật chứng: Đối với 01 (một) bì thư đã niêm phong ghi số vụ 365

(mẫu vật hoàn lại sau giám định) của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương và 01 (một) túi xách màu trắng xám đều là tang vật của vụ án, không có giá trị sử dụng nên cần phải tịch thu, tiêu hủy.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 47 của Bộ

luật Hình sự;

Điều 106, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban

Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

1. Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Chí T phạm tội “Tàng trữ

trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Chí T 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ

ngày 25/7/2022.

2. Về xử lý vật chứng:

Tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) bì thư đã niêm phong ghi số vụ 365 (mẫu vật hoàn

lại sau giám định) của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương; 01 (một) túi xách màu trắng xám. (Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 14/12/2022 giữa Công an thành phố Thuận An với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương).

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Nguyễn Chí T phải nộp 200.000đ (hai

trăm nghìn đồng).

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND tỉnh Bình Dương;

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND tỉnh Bình Dương;

- Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương;

- VKSND thành phố Thuận An;

- Chi cục THADS thành phố Thuận An;

- Công an thành phố Thuận An;

- Chánh án;

Châu Thị Hoài Phương

- Bị cáo;

- Người tham gia tố tụng;

- Lưu:HS,THAHS, AV.

TÒA ÁN NHÂN DÂN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ THUẬN AN

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƯƠNG Bản án số: 35/2023/HS-ST Ngày: 15.02.2023.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Châu Thị Hoài Phương.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Thiện

Ông Lê Văn Công.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Nghĩa - Thư ký Toà án nhân dân

thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình

Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Chiến - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân thành phố Thuận An,

tỉnh Bình Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 373/2022/HSST ngày 15 tháng 12 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 22/2023/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 02 năm 2023 đối với bị cáo:

Nguyễn Chí T (tên gọi khác: Nhí), sinh năm: 1998 tại tỉnh An Giang; nơi

cư trú: Ấp Hưng Tân, xã Phú Hưng, huyện Phú Tân, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Hoà hảo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Nỏn, sinh năm: 1963 và bà Ngô Thị Tuyết Mai, đã chết.

Tiền án, tiền sự: Không có.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/7/2022 cho đến nay. Bị cáo vắng

mặt, có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.

- Người chứng kiến: Nguyễn Kim Hoàng; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung

vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 06 giờ 15 phút ngày 25/7/2022, bị cáo Nguyễn Chí T đang chạy

bộ đến khu vực trước tiệm cầm đồ Đạt Thành Công, địa chỉ số 01/62 khu phố Hòa Lân 2, phường Thuận Giao, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương thì lực lượng Công an phường Thuận Giao thấy nghi vấn nên tiến hành kiểm tra. Qua kiểm tra, phát hiện bên trong túi xách màu trắng xám của bị cáo đang đeo trên người có 01 (một) túi nylon miệng kéo dính viền màu xanh chứa tinh thể màu trắng (nghi vấn ma túy), bị cáo khai nhận tinh thể màu trắng trên là ma túy đá cất giấu để sử dụng nên lực lượng Công an tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, tạm giữ bị cáo để điều tra xử lý.

Tang vật thu giữ: 01 (một) túi nylon miệng kéo dính viền màu xanh chứa

tinh thể màu trắng; 01 (một) túi xách màu trắng xám.

Quá trình điều tra, bị cáo Thiện khai nhận: Ma tuý bị thu giữ là của bị cáo.

Bị cáo đã mua ma tuý từ 01 (một) người phụ nữ tên Thảo (khoảng 28 tuổi, dáng người ốm, cao khoảng 1,7 mét, nói giọng Miền Nam) tại khu vực đường 22/2 thuộc khu phố Hòa Lân 2, phường Thuận Giao, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương vào khoảng 05 giờ 30 phút ngày 25/7/2022.

Ngày 01/8/2022, Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương có kết

luận giám định số 365/KL-KTHS (MT) với nội dung: Mẫu tinh thể màu trắng trong 01 (một) túi nylon miệng kéo dính, khối lượng 0,2701 gam, loại Methamphetamine.

Tại bản Cáo trạng số 03/CT-VKS-TA ngày 13/12/2022 của Viện kiểm sát

nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương đã truy tố bị cáo Nguyễn Chí T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên toà trình bày lời luận tội trong đó

có nội dung vẫn giữ nguyên quyết định cáo trạng đã truy tố, đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo gây ra và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt bị cáo Nguyễn Chí T từ 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù.

Về xử lý vật chứng: Đối với 01 (một) bì thư đã niêm phong ghi số

365/PC09 (là mẫu vật hoàn lại sau giám định) của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương và 01 (một) túi xách màu trắng xám bị cáo sử dụng cất giấu ma túy là tang vật của vụ án không có giá trị sử dụng nên đề xuất tịch thu, tiêu hủy.

Đối với người phụ nữa tên Thảo bán ma túy cho bị cáo, Cơ quan cảnh sát

điều tra Công an thành phố Thuận An đã tiến hành xác minh tại khu vực trên nhưng không có thông tin đầy đủ về đối tượng này nên không có cơ sở để xác minh xử lý.

Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng theo nội dung Viện kiểm

sát truy tố. Bị cáo đã ăn năn hối cải và xin được giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã

được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Bị cáo Nguyễn Chí T có yêu cầu xét xử vắng mặt, đơn được Nhà tạm

giữ công an thành phố Thuận An xác nhận. Xét thấy đây là yêu cầu tự nguyện của bị cáo, việc vắng mặt của bị cáo không gây trở ngại cho việc xét xử phù hợp với điểm c, d khoản 2 Điều 290 của Bộ luật Tố tụng hình sự nên Hội đồng xét xử chấp nhận xét xử vắng mặt bị cáo.

Trong các giai đoạn tố tụng từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc

việc truy tố, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, cán bộ điều tra, Kiểm sát viên đều thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo không khiếu nại, tố cáo về các hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng là hợp pháp.

Tại bản tường trình; biên bản hỏi cung bị can; biên bản ghi lời khai

(bút lục 67-78, 80-83): Bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương đã truy tố bị cáo. Lời nhận tội của bị cáo trong quá trình điều tra và tại đơn xin vắng mặt phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, lời khai của người làm chứng. Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 06 giờ 15 phút ngày 25/7/2022, bị cáo Nguyễn Chí T tại khu vực trước tiệm cầm đồ Đạt Thành Công, địa chỉ số 01/62, khu phố Hòa Lân 2, phường Thuận Giao, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương có hành vi tàng trữ trái phép 0,2701 gam ma túy, loại Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng thì bị phát hiện, bắt quả tang.

Do đó, cáo trạng truy tố bị cáo Nguyễn Chí T phạm tội “Tàng trữ trái

phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Ma túy là loại chất gây nghiện nguy hiểm, người sử dụng ma túy sẽ bị ảnh

hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe, tính mạng đồng thời là nguyên nhân phát sinh những tội phạm khác, tạo nên gánh nặng cho xã hội, gây tha hóa biến chất một bộ phận nhân dân. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo nhận thức được hành vi cố ý tàng trữ trái phép chất ma túy nhằm mục đích sử dụng là vi phạm pháp luật Hình sự nhưng để thỏa mãn cơn nghiện, bị cáo đã cất giấu ma túy, hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ độc quyền về quản lý chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự, trị an tại địa phương. Vì vậy phải xét xử mức án tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm đảm bảo tính giáo dục riêng cho bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có. Về tình tiết giảm

nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Đối chiếu với các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tính chất, mức độ hành vi phạm tội cũng như nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy hình phạt Viện Kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Đối với người phụ nữa tên Thảo bán ma túy cho bị cáo, hiện chưa xác

định được nhân thân lai lịch, khi nào xác minh được sẽ xử lý sau.

Về xử lý vật chứng: Đối với 01 (một) bì thư đã niêm phong ghi số vụ

365 (mẫu vật hoàn lại sau giám định) của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương và 01 (một) túi xách màu trắng xám đều là tang vật của vụ án, không có giá trị sử dụng nên cần phải tịch thu, tiêu hủy.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 47

của Bộ luật Hình sự;

Điều 106, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy

ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

1. Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Chí T phạm tội

“Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Chí T 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù

tính từ ngày 25/7/2022.

2. Về xử lý vật chứng:

Tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) bì thư đã niêm phong ghi số vụ 365 (mẫu vật

hoàn lại sau giám định) của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương; 01 (một) túi xách màu trắng xám. (Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 14/12/2022 giữa Công an thành phố Thuận An với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương).

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Nguyễn Chí T phải nộp

200.000đ (hai trăm nghìn đồng).

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tuyên án./.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Châu Thị Hoài Phương

TÒA ÁN NHÂN DÂN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨAVIỆT NAM THÀNH PHỐ THUẬN AN

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƯƠNG

BIÊN BẢN NGHỊ ÁN

Vào hồi …..giờ…..ngày 15 tháng 02 năm 2023;

Tại: Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.

Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Châu Thị Hoài Phương.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Thiện;

Ông Lê Văn Công.

Tiến hành nghị án vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 372/2022/HSST ngày

15 tháng 102 năm 2022 đối với:

Nguyễn Chí T (tên gọi khác: Nhí), sinh năm: 1998 tại tỉnh An Giang.

Căn cứ vào các Điều 299 và Điều 326 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả

tranh tụng tại phiên tòa, các quy định pháp luật.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT, QUYẾT ĐỊNH

CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU:

1. Vụ án không thuộc trường hợp tạm đình chỉ hoặc trường hợp trả hồ sơ

điều tra bổ sung.

Kết quả biểu quyết: 03/03 thống nhất.

2. Trong các giai đoạn tố tụng từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc

việc truy tố, các tài liệu, chứng cứ của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thu thập; các tài liệu, chứng cứ do bị cáo và những người tham gia tố tụng khác cung cấp đều thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự và hợp pháp.

Kết quả biểu quyết: 03/03 thống nhất.

3. Về tội danh: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự;

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Chí T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Kết quả biểu quyết: 03/03 thống nhất.

4. Về hình phạt:

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật

Hình sự;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Chí T 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù; thời hạn tù

tính từ ngày 25/7/2022.

Kết quả biểu quyết: 03/03 thống nhất.

5. Về xử lý vật chứng: Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106, Điều 136

của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) bì thư đã niêm phong ghi số vụ 365 (mẫu vật

hoàn lại sau giám định) của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương; 01 (một) túi xách màu trắng xám. (Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 14/12/2022 giữa Công an thành phố Thuận An với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương).

6. Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị

quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo Nguyễn Chí T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2, Luật thi hành

án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Kết quả biểu quyết: 03/03 thống nhất.

7. Bị cáo không thuộc trường hợp miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình

phạt.

Kết quả biểu quyết: 03/03 thống nhất.

8. Các hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người

tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử là hợp pháp.

Kết quả biểu quyết: 03/03 thống nhất.

9. Kiến nghị phòng ngừa tội phạm, khắc phục vi phạm: Không có.

Kết quả biểu quyết: 03/03 thống nhất.

10. Tuyên quyền kháng cáo cho bị cáo.

Kết quả biểu quyết: 03/03 thống nhất.

11. Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo việc thi hành án.

Kết quả biểu quyết: 03/03 thống nhất.

Nghị án kết thúc vào hồi ......giờ......phút, ngày 15 tháng 02 năm 2023.

Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả các thành viên Hội đồng xét

xử cùng nghe và ký tên. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Châu Thị Hoài Phương TOÀ ÁN NHÂN DÂN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ THUẬN AN

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc TỈNH BÌNH DƯƠNG Số: 57/2023/HSST-QĐTG

Thuận An, ngày 15 tháng 02 năm 2023

QUYẾT ĐỊNH TẠM GIAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Châu Thị Hoài Phương.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Thiện;

Ông Lê Văn Công.

Căn cứ Điều 109, 113, 119 và 329 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ Biên bản nghị án ngày 15 tháng 02 năm 2023 của Hội đồng xét xử

sơ thẩm;

Xét thấy cần tiếp tục tạm giam bị cáo để bảo đảm cho việc thi hành án.

QUYẾT ĐỊNH

Điều 1

Tạm giam bị cáo Nguyễn Chí T (tên gọi khác: Nhí), sinh năm: 1998 tại

tỉnh An Giang; nơi cư trú: Ấp Hưng Tân, xã Phú Hưng, huyện Phú Tân, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: không.

Bị Toà án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo Nguyễn Chí T 01 (một) năm 03 (ba)

tháng tù.

Theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Thời hạn tạm giam là 45 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Điều 2

Nhà tạm giữ Công an thành phố Thuận An có trách nhiệm thi hành Quyết

định này.

Cỡ chữ