- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Văn P và Lê Văn T " đánh bạc" - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn P và Lê Văn T phạm tội “Đánh bạc”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 321 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật hình sự giảm nhẹ một phần mức hình phạt
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B TỈNH BÀ RỊA –VŨNG TÀU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 35/2023/HS-ST Ngày 26-4-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B, TỈNH BT
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Dung
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Đình Khoa
2. Bà Nguyễn Thị Thọ
Thư ký phiên tòa: Bà Hồ Thị Thắm – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh BT.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B, tỉnh BT tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Lý – Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 4 năm 2023; tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh BT xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 20/2023/TLST-HS ngày 15 tháng 3 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 27/2023/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 4 năm 2023, đối với các bị cáo:
Lê Văn P, sinh năm: 1996, tại Kiên Giang; địa chỉ : Ấp Đ, xã Th, huyện T, tỉnh K.Chỗ ở hiện nay: Khu Lan Anh 1, Tổ 10, Ấp T, xã H, thành phố B, tỉnh BT; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn C, sinh năm 1969 và bà Thị H, sinh năm 1976; Bị cáo là con thứ hai trong gia đình có 3 anh chị em; sống chung như vợ chồng với Phạm Thị H, sinh năm 1986, con Lê Minh H, sinh năm 2022.
Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khởi nơi cu trú, bị cáo có mặt tại phiên tòa. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Lê Văn T, sinh năm 1991, tại Bà Rịa – Vũng Tàu, hộ khẩu thường trú: : Tổ 11, ấp Đ, xã L, thành phố B, tỉnh BT; chỗ ở hiện nay: Số 06A8 khu Lan Anh 1, ấp T, xã H, thành phố B, tỉnh BT; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; họ tên cha Lê Thành T, sinh năm 1963 họ tên mẹ: Nguyễn Thị B, sinh năm 1964, bị cáo là con thứ hai trong gia đình có ba anh chị em; Vợ Nguyễn Đặng T sinh năm 1998, có 2 con, Lê bảo H, sinh năm 2015, Lê Bảo A sinh năm 2017.
Tiền án, tiền sự: không.
Nhân thân Tại Bản án số 74/2008/HSST ngày 29/12/2008 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh BT tuyên phạt Lê Văn T 27 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú, bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 23 giờ 30 phút ngày 10 - 12 - 2022, Lê Văn T đến Công an thành phố B tự thú và khai nhận vào tháng 11 và tháng 12 năm 2022, diễn ra các trận đấu bóng đá World cup 2022, Tâm sử dụng điện thoại di động hiệu Oppo A53, số Imeil: 861438055050132, số Imei2: 861438055050124, có gắn sim thuê bao 0932403840 nhắn tin cá độ bóng đá với Lê Văn P thông qua điện thoại di động hiệu Iphone, số IMEI: 359177077748922, gắn sim số: 0357398809, cụ thể như sau:
Trận1: Vào lúc 23 giờ ngày 28 - 11 - 2022 diễn ra trận bóng đá giữa Brazil – Thụy Sỹ. Phúc nhắn tin tỷ lệ cá cược cho Tâm như sau: Brazil chấp 1.1/4 dưới a8, tx 2.5 xỉu a85 H1 Brazil chấp ½ dưới a8 tx 1t xỉu a8. Nghĩa là: Brazil chấp Thụy Sỹ 1.25 trái, nếu chọn Thụy Sỹ thắng được 80% số tiền cá độ, tài xỉu 2.5 trái, cược xỉu thắng 85%; Hiệp 1 Brazil chấp 0.5 trái, nếu chọn Thụy Sỹ thắng được 80%, tài xỉu 1 trái, cược xỉu thắng 80% số tiền cá độ.
Tâm chọn Thụy Sỹ với số tiền là 10.000.000 đồng, kết quả trận đấu Brazil thắng 1-0 nên Tâm thắng 1/2 số tiền 10.000.000 đồng x 80% = 4.000.000 đồng. Như vậy, tổng số tiền đánh bạc trong trận này là 10.000.000 đồng + 4.000.000 đồng = 14.000.000 đồng.
Trận 2: Vào lúc 22 giờ ngày 30 - 11 - 2022 diễn ra trận bóng đá giữa Tunisia – Pháp. Phúc nhắn tin tỷ lệ cá cược cho Tâm: Phap ¾ 80, Tx 2.1/4 85, nghĩa là: Pháp chấp Tunisia 30.754 trái, thắng 80%, tài xỉu 2.25 trái thắng 85%.
Tâm chọn Pháp thắng với số tiền 2.000.000 đồng. Kết quả Tunisia thắng Pháp 1-0 nên Tâm thua 2.000.000đ đồng. Như vậy, tổng số tiền đánh bạc trong trận này là 2.000.000 đồng.
Trận 3: Vào lúc 02 giờ ngày 01 - 12 - 2022 diễn ra trận đấu bóng đá giữa Saudi Arbia – Mexico. Phúc nhắn tin tỷ lệ cá cược cho Tâm: Mexico chap ¾ lua tx 2.5 lua h1 mexico chấp ¼ tx 1 xỉu a75, nghĩa là: Mexico chấp Saudi Arbia 0.75 trái thắng 90%, tài xỉu 2.5 trái thắng 90%; Hiệp 1 Mexico chấp Saudi Arbia 0.25 trái, tài xỉu 1 trái thắng 75% tiền cược.
Tâm chọn tài 4 triệu, kết quả trận đấu Saudi Arbia thua Mexico 1-2 nên Tâm thắng số tiền 4.000.000 đồng x 90% = 3.600.000 đồng. Như vậy, tổng số tiền đánh bạc trong trận này là 4.000.000 đồng + 3.600.000 đồng = 7.600.000 đồng.
Trận 4: Vào lúc 02 giờ ngày 01/12/2022 diễn ra trận bóng đá giữa Ba Lan – Argentina. Phúc nhắn tin tỷ lệ cá cược cho Tâm: Argentina 1.1/4 bl 85, Tx 2.1/4 85. Nghĩa là: Argentina chấp Ba Lan 1.25 trái, cá cược Ba Lan thắng 85%. Tài xỉu 2.25 trái thắng 85%.
Tâm chọn Ba Lan thắng 4.000.000 đồng. Kết quả Ba Lan thua Argentina 0-2 nên Tâm thua số tiền 4.000.000 đồng. Như vậy, tổng số tiền đánh bạc trong trận này là 4.000.000 đồng.
Tại cơ quan CSĐT công an Tp. Bà Rịa Lê Văn T, Lê Văn P thừa nhận hành vi phạm tội như trên.
- Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng:
+ 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo A53, số Imeil: 861438055050132, số Imei2: 861438055050124, có gắn sim thuê bao 0932403840 của Lê Văn T sử đụng để đánh bạc.
+ 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone, số IMEI: 359177077748922, gắn sim số: 0357398809 của Lê Văn P sử đụng để đánh bạc.
Viện kiểm sát nhân dân thành phố B ra quyết định chuyển toàn bộ vật chứng trên đến Chi cục thi hành án dân sự thành phố B bảo quản, chờ xử lý.
Tại bản Cáo trạng số 29/CT-VKS ngày 13 - 3 - 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố B đã truy tố các bị cáo Lê Văn T và Lê Văn P về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
Kiểm sát viên giữ quyền công tố sau khi tranh luận vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo về tội “đánh bạc”, trong quá trình điều tra, xét xử vụ án, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo Phúc tự nguyện ra đầu thú, bị cáo Tâm tự nguyện ra tự thú nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự; Điều 36 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Lê Văn P từ 9 đến 12 tháng cải tạo không giam giữ. Áp dụng khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự; điểm s, r khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự; Điều 36 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Lê Văn T từ 9 đến 12 tháng cải tạo không giam giữ. Về hình phạt bổ sung: xét bị cáo không có khả năng thi hành án nên không áp dụng. Về xử lý vật chứng đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch sung quỹ 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo A53, số Imeil: 861438055050132, số Imei2: 861438055050124, có gắn sim thuê bao 0932403840 của Lê Văn T sử đụng để đánh bạc. 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone, số IMEI: 359177077748922, gắn sim số: 0357398809 của Lê Văn P sử đụng để đánh bạc.
Các bị cáo thành khẩn khai báo, khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố; không tranh luận, chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố B, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa hôm nay hoàn toàn phù hợp với chính lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra; phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: Từ ngày 28 - 11 - 2022 đến 01 - 12 - 2022 Lê Văn P và Lê Văn T đánh bạc 04 trận, trong đó có 02 trận số tiền dùng vào đánh bạc từ 5 triệu đồng trở lên. Cụ thể:
Ngày 28 - 11 - 2022 diễn ra trận bóng đá giữa Brazil – Thụy Sỹ giải bóng đá World cup 2022, Phúc có hành vi đánh bạc dưới hình thức cá độ bóng đá được thua bằng tiền với Tâm. Số tiền dùng để đánh bạc trong trận này xác định là 14.000.000 đồng.
Ngày 01- 12- 2022 diễn ra trận đấu bóng đá giữa Saudi Arbia – Mexico giải bóng đá World cup 2022, Phúc có hành vi đánh bạc dưới hình thức cá độ bóng đá được thua bằng tiền với Tâm. Số tiền dùng để đánh bạc trong trận này xác định là 7.600.000 đồng.
Hành vi của bị cáo Lê Văn P và Lê Văn T đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.
Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo thực hiện 02 lần đánh bạc trở lên nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Trong quá trình điều tra, xét xử vụ án, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, các bị cáo là lao động chính trong gia đình và có hoàn cảnh gia đình khó khăn được địa phương xác nhận bị cáo Phúc tự nguyên ra đầu thú nên cần xem xét áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự giảm nhẹ một phần mức hình phạt cho bị cáo. Bị cáo Tâm tự nguyện ra tự thú, nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự
Xét tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội của các bị cáo xâm phạm trật tự công cộng, ảnh hưởng xấu đến trật tự an ninh tại địa phương. Bị cáo Tâm từng bị xử phạt về hành vi trộm cắp tài sản, nhưng bị cáo vẫn không lấy làm bài học kinh nghiệm mà còn tiếp tục phạm tội. Các bị cáo là người trưởng thành, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, nhưng vì mục đích vụ lợi về tài sản nên đã phạm tội. Các bị cáo tự nguyện ra tự thú và đầu thú để khai báo hành vi phạm tội của mình sau khi thực hiện hành vi vi phạm pháp luật thể hiện sự ăn năn hối cải của các bị cáo, các bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, ổn định, phạm tội trong lúc ham vui nhất thời. Do đó Hội đồng xét xử xét thấy không cần cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho các bị cáo được áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ để tạo điều kiện cho các bị cáo được cải tạo tại địa phương, dưới sự giám sát của gia đình, chính quyền địa phương, giúp bị cáo tiếp tục được lao động, chăm lo kinh tế cho gia đình, đảm bảo tính nhân văn của pháp luật hình sự , các bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật, cố gắng cải tạo để trở thành công dân có ích cho xã hội. Vì các bị cáo không có thu nhập ổn định nên không áp dụng khấu trừ thu nhập cho các bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo phạm tội vì mục đích vụ lợi về tài sản nên cần phạt mỗi bị cáo 10.000.000 đồng nhằm răn đe và phòng ngừa tội phạm.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tuyên tịch thu sung công quỹ 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo A53, số Imeil: 861438055050132, số Imei2: 861438055050124, có gắn sim thuê bao 0932403840 của Lê Văn T sử đụng để đánh bạc. 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone, số IMEI: 359177077748922, gắn sim số: 0357398809 của Lê Văn P sử đụng để đánh bạc.
Quan điểm của Đại diện viện kiểm sát là phù hợp nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
Về án phí: Mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn luật định.
Vì những lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn P và Lê Văn T phạm tội “Đánh bạc”.
Áp dụng khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 36 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Lê Văn P 12 tháng cải tạo không giam giữ.
Áp dụng khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự; điểm r, s khoản 1, Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Điều 36 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Lê Văn T 12 tháng cải tạo không giam giữ.
Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Ủy ban nhân dân xã H thành phố B, tỉnh BT nhận được bản án, quyết định thi hành hình phạt cải tạo không giam giữ của bị cáo Lê Văn P và Lê Văn T. Miễn khấu trừ thu nhập cho các bị cáo Lê Văn T và Lê Văn P.
Giao bị cáo Lê Văn P và Lê Văn T cho Ủy ban nhân dân xã H thành phố B, tỉnh BT giám sát, giáo dục các bị cáo. Gia đình bị cáo Tâm, bị cáo Phúc có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã H thành phố B, tỉnh BT trong việc giám sát, giáo dục các bị cáo. Trường hợp các bị cáo thay đổi nơi cư trú thì phải thực hiện thủ tục theo quy định Điều 100 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian chấp hành án, các bị các phải thực hiện nghĩa vụ theo quy định về cải tạo không giam giữ.
Hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự. Buộc mỗi bị cáo Lê Văn T, Lê Văn P phải nộp 10.000.000 (mười triệu) đồng.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tuyên tịch sung công quỹ: 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo A53, số Imeil: 861438055050132, số Imei2: 861438055050124, có gắn sim thuê bao 0932403840 của Lê Văn T. 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone, số IMEI: 359177077748922, gắn sim số: 0357398809 của Lê Văn P.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 50 ngày 14 tháng 3 năm 2023 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố B)
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc mỗi bị cáo Lê Văn P và Lê Văn T phải nộp 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án (26-4-2023) các bị cáo có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh BT xét xử phúc thẩm.
“Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại điều 6, 7, 7a, 7b, 9 luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.”
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Nơi nhận:
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- TAND tỉnh BR-VT;
- VKSND tỉnh BR-VT;
- Sở Tư pháp tỉnh BR-VT;
- UBND xã H,
- VKSND thành phố B;
- Công an thành phố B;
- Chi cục THADS thành phố B;
- Lưu hồ sơ vụ án.
Bùi Thị Dung
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thị Thọ Trần Đình Khoa
Bùi Thị Dung
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh BR-VT; - VKSND tỉnh BR-VT; - Sở Tư pháp tỉnh BR-VT; - UBND xã H, - VKSND thành phố B; - Công an thành phố B; - Chi cục THADS thành phố B; - Lưu hồ sơ vụ án. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Đặng Văn Đê Lê Văn Công | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Thị Dung THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Thị Dung |