vanban.org

Bản án 35/2023/HS-ST — Hình sự

TAND Thị xã Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp Tuyên án 27/06/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Dương N (tên gọi khác: Nu Địa) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Dương N 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị chấp hành hình phạt tù và được trừ đi thời gian tạm giữ (từ ngày 10/5/2023 đến ngày 18/5/2023). Về vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "BẢN ÁN - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Dương N (tên gọi khác: Nu Địa) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên trả lại; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ E
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 35 /2023/ HS-ST
Ngày 27-6-2023

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ E,TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Thống.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trang Văn Hận;

2. Bà Ngô Thị Diễm Thúy.

- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Kim Lài - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố E, tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố E, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Hồ Long Hồ - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố E, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 28/2023/TLST-HS, ngày 02 tháng 6 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 30/2023/QĐXXST-HS, ngày 13 tháng 6 năm 2023, đối với bị cáo:

Dƣơng N (tên gọi khác: Nu Địa), sinh ngày 24/8/1994 tại Đồng Tháp; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Khóm Q, phường W, thành phố E, tỉnh Đồng Tháp; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; con ông Dương R, sinh năm 1965 (chết) và bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1965; gia đình có 02 chị, em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình; vợ, con: Chưa có; tiền sự: Ngày 23/9/2020 bị Tòa án nhân dân thị xã E (nay là Tòa án nhân dân thành phố E) ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 18 tháng. Chấp hành xong ngày 19/11/2021; tiền án: Chưa có; nhân thân: Ngày 13/7/2017 bị Tòa án nhân dân thị xã E (nay là Tòa án nhân dân thành phố E) ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 18 tháng; tạm giữ: Từ ngày 10/5/2023 đến ngày 18/5/2023 hủy bỏ biện pháp tạm giữ; tạm giam: Không. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú (bị cáo có mặt tại phiên tòa).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Nguyễn Thị T, sinh năm 1965 (vắng mặt);

Nơi cư trú: Khóm Q, phường W, thành phố E, tỉnh Đồng Tháp.

- Người chứng kiến: Phan Duy Y, sinh năm 2001 (vắng mặt).

Nơi cư trú: Khóm 1, phường W, thành phố E, tỉnh Đồng Tháp.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 08 giờ 30 phút, ngày 10/5/2023, Công an phường W phối hợp với Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Hình sự - Kinh tế - Ma túy, Công an thành phố E tiến hành tuần tra đảm bảo an ninh trật tự trên địa bàn phường. Khi đến đường Hùng Vương thuộc khóm 3, phường W, thành phố E, phát hiện Dương N điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 66B1-152.38 đang di chuyển trên đường có biểu hiện nghi vấn. Đoàn kiểm tra tiến hành kiểm tra, phát hiện trong tay áo bên phải của Nu đang mặc có 01 (một) đoạn ống nhựa trong suốt được hàn kín hai đầu, bên trong có chứa các hạt tinh thể rắn màu trắng (nghi là là ma túy) chưa xác định trọng lượng, nên lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Tại biên bản bắt người phạm tội quả tang, Cơ quan điều tra đã thu giữ: 01 (một) đoạn ống nhựa trong suốt được hàn kín hai đầu, bên trong có chứa các hạt tinh thể rắn màu trắng (nghi là là ma túy) chưa xác định trọng lượng; 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát 66B1- 152.38 đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng bên trong.

Tại bản Kết luận giám định số: 508/KL-KTHS, ngày 12/5/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự (KTHS) Công an tỉnh Đồng Tháp, kết luận:“ Tinh thể rắn chứa trong một đoạn ống nhựa (dạng ống hút) trong suốt, được hàn kín hai đầu, được niêm phong trong túi niêm phong ký hiệu PS3, mã số 2005288 nêu trên gửi giám định là chất ma túy, có khối lượng 0,130 gam loại Methamphetamine (số thứ tự 247, mục IIC thuộc Danh mục II, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ).

Quá trình điều tra, Dương N thừa nhận ma túy bị bắt quả tang là của Nu mua của một người thanh niên, không rõ họ tên và địa chỉ cụ thể tại xã An Long, huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp với giá 150.000 đồng mục đích đem về sử dụng. Nu mượn xe mô tô biển kiểm soát 66B1-152.38 của bà Nguyễn Thị T đi mua ma túy. Sau khi mua ma túy xong, Nu điều khiển xe mô tô về thành phố E thì bị bắt giữ.

Qúa trình điều tra, Dương N đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội đã thực hiện.

Tại bản cáo trạng số: 34/CT-VKSTPHN, ngày 02 tháng 6 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố E, tỉnh Đồng Tháp truy tố bị cáo Dương N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố E thực hành quyền công tố khẳng định hành vi của bị cáo Dương N đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Dương N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Dương N mức hình phạt từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù; về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập không ổn định nên đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Đối với việc Dương N khai nhận số lượng ma túy mua của một người thanh niên, không biết rõ họ tên và địa chỉ tại xã An Long, huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp với giá 150.000 đồng. Qua xác minh không rõ đối tượng, Cơ quan điều tra chưa làm việc được, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau nên không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử lý.

Đối với việc Dương N điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 66B1-152.38 đi mua ma túy. Qua điều tra xác định xe mô tô này thuộc quyền sở hữu hợp pháp của bà Nguyễn Thị T. Bà Điệp không biết Nu mượn xe đi mua ma túy, do đó không có căn cứ xử lý Điệp với vai trò đồng phạm với Dương N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” nên không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử lý.

Về vật chứng vụ án: Căn cứ Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) túi niêm phong số 503, ngày 10/5/2023 có đóng dấu tròn màu đỏ của “Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Đồng Tháp” và có chữ ký ghi họ tên Nguyễn Văn Thắng Em, Nguyễn Văn Bé Năm, Lê Văn Ngoan và Dương N; Trả lại cho bà Nguyễn Thị T 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát 66B1- 152.38 đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng bên trong vì xe này thuộc sở hữu của bà Điệp, việc Nu mượn xe đi mua ma túy sử dụng bà Điệp hoàn toàn không biết.

Tại phiên tòa, bị cáo Dương N đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát, lời nhận tội của bị cáo phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 10/5/2023, lời khai của người chứng kiến và các chứng cứ khác thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo thống nhất với nội dung luận tội của Kiểm sát viên và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo Dương N đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như cáo trạng truy tố của Viện Kiểm sát. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi mình thực hiện là vi phạm pháp luật hình sự, bản thân bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, đang có 01 tiền sự, bị Tòa án áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 18 tháng. Sau khi chấp hành xong thời gian cai nghiện, bị cáo lại tiếp tục tái nghiện. Vì muốn thỏa mãn nhu cầu của bản thân bị cáo đã thực hiện hành vi cất giấu bất hợp pháp chất ma túy để nhằm mục đích sử dụng, cụ thể là: Vào lúc 08 giờ 30 phút, ngày 10/5/2023, tại đường Hùng Vương thuộc khóm 3, phường W, thành phố E, Dương N đang có hành vi cất giấu bất hợp pháp trong tay áo bên phải của Nu đang mặc có 01 (một) đoạn ống nhựa trong suốt được hàn kín hai đầu, bên trong có chứa các hạt tinh thể rắn màu trắng (nghi là là ma túy) thì bị Công an phường W phối hợp với Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Hình sự - Kinh tế - Ma túy Công an thành phố E đang tiến hành tuần tra đảm bảo an ninh trật tự trên địa bàn phường phát hiện và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Tại biên bản bắt người phạm tội quả tang, Cơ quan điều tra đã thu giữ 01 (một) đoạn ống nhựa trong suốt được hàn kín hai đầu, bên trong có chứa các hạt tinh thể rắn màu trắng (nghi là là ma túy) chưa xác định trọng lượng.

Căn cứ bản Kết luận giám định số: 508/KL-KTHS, ngày 12/5/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự (KTHS) Công an tỉnh Đồng Tháp. Kết luận: “Tinh thể rắn chứa trong một đoạn ống nhựa (dạng ống hút) trong suốt, được hàn kín hai đầu, được niêm phong trong túi niêm phong ký hiệu PS3, mã số 2005288 nêu trên gửi giám định là chất ma túy, có khối lượng 0,130 gam loại Methamphetamine”.

Dương N thừa nhận, ma túy bị bắt quả tang là của Nu mua của một người thanh niên, không rõ họ tên và địa chỉ cụ thể tại xã An Long, huyện Tam Nông với giá 150.000 đồng mục đích để sử dụng.

Căn cứ lời khai nhận của bị cáo, Biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 10/5/2023, lời khai của người chứng kiến và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã chứng minh Dương N đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy với khối lượng 0,130 gam loại Methamphetamine.

Như vậy, có đủ căn cứ để kết luận hành vi của bị cáo Dương N đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự như cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát.

Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:…

a) …

c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;…”

Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý chất ma túy, gây ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an tại địa phương.

Như chúng ta đã biết, hậu quả của việc sử dụng trái phép chất ma túy gây ra cho xã hội rất nặng nề, nó đang làm hủy hoại sức khỏe của chính người sử dụng, xói mòn sự tồn tại và phát triển của loài người, tàn phá cuộc sống yên vui gia đình của người sử dụng, gây tác hại trên lĩnh vực kinh tế, văn hóa, là nguyên nhân phát sinh tội phạm và các tệ nạn xã hội khác, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự ổn định và phát triển của xã hội.

Hiện nay, tình trạng tàng trữ ma túy để sử dụng và mua bán trái phép trên cả nước nói chung và trên địa bàn thành phố E nói riêng xảy ra ngày càng nhiều với tính chất hết sức phức tạp. Nhằm để ổn định tình hình chính trị tại địa phương, góp phần vào công cuộc phòng chống và ngăn ngừa tội phạm, Hội đồng xét xử xét thấy phải xử phạt bị cáo mức hình phạt nghiêm khắc để thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật.

Về nhân thân của bị cáo:

Bị cáo có nhân thân xấu, từng 2 lần bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc. Đáng ra, sau mỗi lần bị xử lý trên bị cáo phải biết ăn năn, hối cải về hành vi sai trái của mình, ra sức học tập, lao động để có cuộc sống lành mạnh, sống hòa nhập với cộng đồng, cùng chung tay xây dựng nếp sống văn minh mà Đảng và Nhà nước ta đang ra sức xây dựng. Nhưng bị cáo không làm được điều đó mà lại tiếp tục sử dụng và nghiện ma túy. Để thỏa mãn nhu cầu của bản thân, bị cáo đã thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Điều đó thể hiện bị cáo thiếu ý thức tu dưỡng rèn luyện nhân cách, thể hiện bản chất xem thường pháp luật.

Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử áp dụng để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt thể hiện tính nhân đạo của pháp luật Xã hội chủ nghĩa.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, căn cứ vào tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự áp dụng đối với bị cáo và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy, phải xử phạt bị cáo mức hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống cộng đồng một thời gian nhất định, để có đủ điều kiện cải tạo, giáo dục cho bị cáo thấy được lỗi lầm của mình, phấn đấu trở thành con người tốt, có ích cho gia đình và xã hội. Có như thế mới thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật, đồng thời nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung cho những ai có ý định phạm tội như bị cáo.

Đối với việc Dương N khai nhận số lượng ma túy mua của một người thanh niên, không biết rõ họ tên và địa chỉ tại xã An Long, huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp với giá 150.000 đồng. Qua xác minh không rõ đối tượng, Cơ quan điều tra chưa làm việc được, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau nên Hội đồng xét xử không xem xét xử lý.

Đối với việc Dương N điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 66B1-152.38 đi mua ma túy. Qua điều tra xác định xe mô tô này thuộc quyền sở hữu hợp pháp của bà Nguyễn Thị T. Bà Điệp không biết Nu mượn xe đi mua ma túy, do đó không có căn cứ xử lý bà Điệp với vai trò đồng phạm với Dương N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” nên Hội đồng xét xử không xem xét xử lý.

Về vật chứng vụ án:

Đối với xe mô tô biển kiểm soát 66B1-152.38 bị cáo Dương N điều khiển đi mua ma túy khi bị bắt quả tang. Qua điều tra, xác định xe mô tô này thuộc quyền sở hữu hợp pháp của bà Nguyễn Thị T. Xét thấy, đây là tài sản hợp pháp của bà Điệp nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên trả lại cho bà Điệp là phù hợp pháp luật.

Đối với khối lượng ma túy liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo được niêm phong trong 01 (một) túi niêm phong số 503, ngày 10/5/2023 có đóng dấu tròn màu đỏ của “Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Đồng Tháp” và có chữ ký ghi họ tên Nguyễn Văn Thắng Em, Nguyễn Văn Bé Năm, Lê Văn Ngoan và Dương N. Hội đồng xét xử căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên tịch thu tiêu hủy là phù hợp pháp luật.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập không ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Từ các phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử nhận thấy nội dung luận tội của Kiểm sát viên là có căn cứ và phù hợp pháp luật.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án để buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố bị cáo Dương N (tên gọi khác: Nu Địa) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Dương N 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị chấp hành hình phạt tù và được trừ đi thời gian tạm giữ (từ ngày 10/5/2023 đến ngày 18/5/2023).

2. Về vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự

Tịch thu tiêu hủy 01 (một) túi niêm phong số 503, ngày 10/5/2023 có đóng dấu tròn màu đỏ của “Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Đồng Tháp” và có chữ ký ghi họ tên Nguyễn Văn Thắng Em, Nguyễn Văn Bé Năm, Lê Văn Ngoan và Dương N.

Trả lại cho bà Nguyễn Thị T 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát 66B1- 152.38 đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng bên trong.

(Vật chứng trên hiện Chi cục Thi hành án dân sự thành phố E đang quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 02/6/2023).

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Dương N phải chịu 200.000đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 27/6/2023). Riêng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ