vanban.org

Bản án 35/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La Tuyên án 16/05/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt bị cáo Vì Văn L 15 tháng (Mười lăm tháng) cải tạo không giam giữ.

Giao bị cáo Vì Văn L cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện Y, tỉnh Sơn La, giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành hình phạt. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Thời gian cải tạo không giam giữ tính từ ngày Ủy ban nhân dân xã T, huyện … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vì Văn L - phạm tội vi phạm các quy định về khai thác, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản (điều 232 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS n…"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Vì Văn L 15 tháng (Mười lăm tháng) cải tạo không giam giữ.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN Y
TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 35/2023/HS-ST
Ngày 16-5-2023.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Y, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Thái Văn Tùng.

Các Hội thẩm nhân dân:Ông Hồ Như Hồng và Bà Lò Thị Giang.

- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Văn Hải - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Y, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Y tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Đôn - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyê ̣ n Y, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 37/2023/TLST- HS ngày 25 tháng 4 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 36/2023/QĐXXST-HS ngày 04/5/2023 đối với bị cáo:

Vì Văn L; tên gọi khác: Không; sinh năm 1993, tại huyện Y, tỉnh Sơn La; nơi cư trú: Bản C, xã T, huyện Y, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: trồng trọt; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; dân tộc: thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; đảng phái, đoàn thể: Không; con ông Vì Văn Đ và bà Lò Thị K; vợ: Vì Thị H; có 01con sinh năm 2018; tiền án: không; tiền sự: Ngày 16/12/2022, Hạt kiểm lâm huyện Y ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 00381/QĐ-XPVPHC bằng hình thức phạt tiền, mức phạt 6.000.000 đồng. Ngày 19/12/2022, Vì Văn L chấp hành xong Quyết định xử phạt vi phạm hành chính. (Đến thời điểm phạm tội mới chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính). Nhân thân: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn bằng lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 13/3/2023. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Sáng ngày 21/02/2023, Vì Văn L điều khiển xe máy đi từ nhà theo đường liên bản đến nương của gia đình giáp với khu rừng thuộc khu vực bản C, xã T, huyện Y để làm nương. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, L làm nương xong đi qua rừng về lán nương của gia đình thấy trong rừng có nhiều cục, cành gỗ Bách xanh nên nảy sinh ý định khai thác nhằm mục đích bán kiếm lời. Sau đó, L lấy 03 bao tải trên xe máy mang vào rừng khai thác, thu, nhặt các cục, cành gỗ Bách xanh rồi xếp, buộc bao tải gỗ lên xe máy rồi vận chuyển về lán nương của gia đình để cất giữ và ngủ lại tại lán nương của gia đình.

Đến khoảng 05 giờ 30 phút ngày 22/02/2023, Vì Văn L điều khiển xe máy chở 03 bao tải màu trắng bên trong chứa các cục, cành gỗ Bách xanh đi từ lán nương của gia đình ra Quốc lộ 6 rồi đi đến khu vực ngã ba T, xã T, huyện Y để tìm người mua gỗ Bách xanh. Khi L đi đến bản C, xã T, huyện Y thì bị tổ công tác Công an huyện Y, tỉnh Sơn La phối hợp với Công an xã T, huyện Y phát hiện và kiểm tra. Toàn bộ số lâm sản trên của Vì Văn L không có hồ sơ lâm sản hợp pháp. Tổ công tác Công an huyện Y phối hợp với Công an xã T, huyện Y đã tiến hành lập biên bản sự việc đối với Vì Văn L về hành vi vận chuyển lâm sản trái pháp luật và thu giữ các vật chứng gồm:

03 bao tải màu trắng bên trong chứa các cục, cành gỗ chưa xác định chủng loại, khối lượng ; 01 xe máy không vỏ, không yếm, không biển kiểm soát, không gương, không đèn, không có số khung, số máy, vỏ động cơ: bên phải có dòng chữ: TAMIS, bên trái có dòng chữ: HONDA, xe cũ đã qua sử dụng.

Xác định về nhân thân, Vì Văn L có 01 tiền sự: Ngày 16/12/2022 Vì Văn L bị Hạt kiểm lâm huyện Y ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 00381/QĐ-XPVPHC về hành vi vận chuyển lâm sản trái pháp luật 32 kg gỗ Bách xanh, nhóm IIA bằng hình thức phạt tiền, mức phạt 6.000.000 đồng. Ngày 19/12/2022, Vì Văn L chấp hành xong Quyết định xử phạt vi phạm hành chính. Đến ngày 22/02/2023, Vì Văn L chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính.

Ngày 22/02/2023, Cơ quan điều tra tiến hành cân tịnh, xác định khối lượng lâm sản thu giữ của bị cáo Vì Văn L được tổng khối lượng là 106 Kg lâm sản là gỗ, dạng cục, cành nghi là gỗ Bách xanh. Ngày 24/02/2023, cơ quan điều tra ra quyết định trưng cầu giám định: Lâm sản do Vì Văn L vận chuyển có khối lượng bao nhiêu? Chủng loại? thuộc nhóm nào?

Tại kết luận giám định về việc xác định khối lượng, chủng loại gỗ, ngày 01/3/2023 của Chi Cục kiểm lâm tỉnh Sơn La kết luận: Về chủng loại gỗ: Toàn bộ số lâm sản có trong 03 bao tải màu trắng đang được tạm giữ tại Công an huyện Y đồng nhất một chủng loại có tên là Bách xanh, tên khoa học: Calocedrus macrolepis Kurz, thuộc nhóm IIA loài nguy cấp, quý hiếm;

Về khối lượng: Căn cứ thông tư số: 26/2022/TT- BNNPTNT, ngày 30/12/2022của Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn quy định về quản lý, truy xuất nguồn gốc lâm sản và Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 12619-2:2019 về tính chất vật lý và cơ học gỗ: Tổng khối lượng 106 Kg cục, cành gỗ Bách xanh quy đổi = 0,171 m3gỗ tròn.

Tại bản cáo trạng số 24/CT-VKS-YC ngày 24 tháng 4 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Y, truy tố bị cáo Vì Văn L về tội: “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản”, quy định tại điểm m khoản 1 Điều 232 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa công khai bị cáo Vì Văn L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với nội dung cáo trạng, phù hợp với các tài liệu chứng cứ, trong hồ sơ vụ án. Tại phiên tòa không phát sinh tình tiết mới.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm m khoản 1 Điều 232; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 36 Bộ luật hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo Vì Văn L từ 12 tháng đến 18 tháng cải tạo không giam giữ. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo, miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo.

Về vật chứng: Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 1, điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Đề nghị tuyên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 03 bao tải màu trắng bên trong có chứa các cục, cành gỗ Bách xanh có tổng khối lượng 106 kg, đã được niêm phong; 01 xe máy không vỏ, không yếm, không biển kiểm soát, không gương, không đèn, không có số khung, số máy, vỏ động cơ bên phải có dòng chữ: TAMIS, bên trái có dòng chữ: HONDA, xe cũ nát đã qua sử dụng.

Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở xã vùng III là xã có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn. Đề nghị miễn án phí cho bị cáo.

Ý kiến của bị cáo Vì Văn L tự bào chữa: Bị cáo nhất trí với bản cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Bị cáo nhận thức hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, bị cáo rất ân hận. Mong hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật, mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được cải tạo tại địa phương.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Y, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo Vì Văn L có đủ cơ sở để khẳng định: Ngày 21/02/2023 Vì Văn L đã có hành vi vào rừng thu nhặt các cục, cành gỗ Bách xanh, đựng trong 3 bao tải rồi vận chuyển về lán nương để cất giữ nhằm mục đích bán kiếm lời, đến ngày 22/02/2023 khi đang trên đường vận chuyển 03 bao tải cục cành gỗ Bách xanh đi bán thì bị tổ công tác Cơ quan điều tra Công an huyện Y phối hợp Công an xã T kiểm tra phát hiện, gỗ không có giấy tờ, hồ sơ lâm sản. Tiến hành cân số gỗ thu giữ có khối lượng là 106 Kg gỗ dạng cục, cành. Theo thông tư số: 26/2022/TT- BNNPTNT, ngày 30/12/2022của Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn quy định về quản lý, truy xuất nguồn gốc lâm sản và Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 12619-2:2019 về tính chất vật lý và cơ học gỗ: Tổng khối lượng 106 Kg cục, cành gỗ Bách xanh quy đổi = 0,171 m3gỗ tròn.

Tại kết luận giám định ngày 01/3/2023 của Chi Cục kiểm lâm tỉnh Sơn La kết luận: Toàn bộ số lâm sản thu giữ của bị cáo Vì Văn L đồng nhất một chủng loại có tên là Bách xanh, tên khoa học: Calocedrus macrolepis Kurz, thuộc nhóm IIA loài nguy cấp, quý hiếm. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Vì Văn L khai nhận động cơ mục đích cất giấu, vận chuyển trái phép số lâm sản trên để sử dụng và bán lại kiếm lời. Mặc dù trước đó vào ngày 16/12/2022, bị cáo đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Mua bán vận chuyển Lâm sản trái phép. Quyết định số: 00381/QĐ-XPVPHC bằng hình thức phạt tiền, mức phạt 6.000.000 đồng. Ngày 19/12/2022, bị cáo đã chấp hành xong Quyết định xử phạt vi phạm hành chính nhưng cho đến ngày 22/02/2023, bị cáo Vì Văn L chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính lại tiếp tục thực hiện hành vi Mua bán vận chuyển Lâm sản trái phép. Bản thân bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hậu quả của hành vi, nhưng bị cáo đã cố ý thực hiện tội phạm. Trên cơ sở đó đủ điều kiện căn cứ kết luận hành vi trên của bị cáo Vì Văn L đã phạm vào tội Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản, theo quy định tại điểm m khoản 1 Điều 232 của Bộ luật Hình sự, như cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát là có căn cứ. Việc xét xử bị cáo là chính xác, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật không oan sai.

Xét tính chất, mức độ nguy hiểm hành vi phạm tội của bị cáo Vì Văn L: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà nước về khai thác bảo vệ rừng và lâm sản, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an của địa phương. Bị cáo mua bán vận chuyển số lượng gỗ không lớn, loại gỗ thu gom dạng cục, cành giá trị không lớn, phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Tội phạm và hình phạt của bị cáo được quy định tại điểm m khoản 1 Điều 232 Bộ luật hình sự có mức hình phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Vì Văn L: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo chưa có tiền án, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo ăn năn hối cải. Bị cáo là người dân tộc thiểu số cư trú ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, nhận thức và am hiểu pháp luật có phần hạn chế. Nên cần vận dụng điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Nhân thân: Bị cáo đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Mua bán vận chuyển Lâm sản trái phép là yếu tố cấu thành tội phạm trong vụ án này.

Từ sự phân tích nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo phạm tội lần đầu có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng. Khối lượng lâm sản cất giấu không lớn chủ yếu là cục, cành và đã được thu hồi. Bị cáo có đơn xin cải tạo tại địa phương có xác nhận của chính quyền địa phương. Nên xét chưa cần cách ly bị cáo ra ngoài xã hội mà chỉ cần phạt cải tạo không giam giữ như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát và giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi cư trú của bị cáo giám sát giáo dục theo quy định tại Điều 36 Bộ luật hình sự cũng đủ điều kiện giúp bị cáo tự cải tạo trở thành người lương thiện có ích cho xã hội.

Về hình phạt bổ sung, Theo quy định tại khoản 4 Điều 232 quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng” và tại khoản 3 Điều 36 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định bị cáo còn có thể bị khấu trừ một phần thu nhập từ 05% đến 20% để sung quỹ Nhà nước. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo làm nghề trồng trọt, thu nhập thấp, không có tài sản riêng có giá trị, hoàn cảnh kinh tế gia đình bị cáo khó khăn. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền và miễn việc khấu trừ thu nhập đối với bị cáo.

Vật chứng của vụ án: Đối với 106 kg gỗ Bách xanh, nhóm IIA dạng cục, cành. Không có giấy tờ, không có hồ sơ lâm sản, là loại do Nhà nước thống nhất quản lý và 01 xe gắn máy không vỏ, không yếm, không biển kiểm soát, không gương, không đèn, không có số khung, số máy, vỏ động cơ bên phải có dòng chữ: TAMIS, bên trái có dòng chữ: HONDA, xe cũ nát đã qua sử dụng, đây là các vật chứng do phạm tội mà có và vật chứng là công cụ, phương tiện phạm tội nên cần vận dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 1, điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.

Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở xã có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, theo quyết định số 861/QĐ-TTg ngày 04 tháng 6 năm 2021 của Thủ tướng Chính phủ. Bị cáo thuộc trường hợp được miễn án phí theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm m khoản 1 Điều 232; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật hình sự: Tuyên bố bị cáo Vì Văn L phạm tội Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và Lâm sản.

Xử phạt bị cáo Vì Văn L 15 tháng (Mười lăm tháng) cải tạo không giam giữ.

Giao bị cáo Vì Văn L cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện Y, tỉnh Sơn La, giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành hình phạt. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Thời gian cải tạo không giam giữ tính từ ngày Ủy ban nhân dân xã T, huyện Y, tỉnh Sơn La nhận được bản sao bản án và Quyết định thi hành án đối với Vì Văn L về tội Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản.

Không áp dụng hình phạt bổ sung, miễn việc khấu trừ thu nhập đối với bị cáo.

2. Về vật chứng: Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; khoản 1, điểm a, b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số vật chứng gồm:

- 106 kg Cục, cành gỗ Bách xanh có, đã được niêm phong trong 03 bao tải màu trắng;

- 01 xe máy không vỏ, không yếm, không biển kiểm soát, không gương, không đèn, không có số khung, số máy, vỏ động cơ, bên phải có dòng chữ TAMIS, bên trái có dòng chữ HONDA, xe cũ nát đã qua sử dụng.

(Chi tiết vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an và Chi cục thi hành án huyện Y, tỉnh Sơn La).

3. Về án phí: Căn cứ điểm đ, khoản 1, điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường Vụ Quốc hội quy định về mức thu miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Vì Văn L.

Báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. [Nơi nhận:

Cỡ chữ