vanban.org

Bản án 35/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình Tuyên án 16/06/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Văn Ng phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Văn Ng 02 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 15 tháng 02 năm 2023. Phạt bổ sung bị cáo Trần Văn Ng 5.000.000đồng (năm triệu đồng) sung ngân sách… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ án hình sự về tội tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều củ…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Văn Ng phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN V
TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 35/2023/HS-ST
Ngày 16-6-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN V - TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Thoan.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Xuân Oanh

2. Ông Trần Ngọc Ánh

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Liên - Thư ký Tòa án nhân dân

huyện V, tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện V, tỉnh Thái Bình tham gia

phiên tòa: Bà Phạm Thị Hoài - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 6 năm 2023 tại hội trường trụ sở Ủy ban nhân dân xã T, huyện V, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 32/2023/TLST-HS ngày 11 tháng 5 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 37/2023/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 6 năm 2023 đối với bị cáo:

Trần Văn Ng, sinh ngày x tháng 8 năm 19xx tại tỉnh Thái Bình; nơi cư trú: Thôn B, xã T, huyện V, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; trình độ văn hóa: 9/12; con ông: Trần Văn R và bà Trần Thị K (đều đã chết); có vợ: Vũ Thị G và 03 con; tiền án: Bản án số 155/2021/HS-ST ngày 17 tháng 6 năm 2021 của Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định xử phạt Trần Văn Ng 01 năm 09 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 25 tháng 10 năm 2022; tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ từ ngày 15 tháng 02 năm 2023 đến ngày 18 tháng 02 năm 2023 chuyển tạm giam, hiện đang tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện V, tỉnh Thái Bình. Có mặt

- Người chứng kiến:

1. Anh Nguyễn Trọng T, sinh năm 19xx;

Nơi cư trú: Thôn L, xã T, huyện V, tỉnh Thái Bình.

2. Anh Hoàng Trọng N, sinh năm 19xx;

Nơi cư trú: Thôn H, xã N, huyện V, tỉnh Thái Bình.

(Anh T, anh N vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 09 giờ 00 phút ngày 15 tháng 02 năm 2023, Trần Văn Ng đi xe đạp từ nhà lên khu vực ngõ nhỏ gần chợ C thuộc phường Q, thành phố B, tỉnh Thái Bình gặp và mua của một người phụ nữ khoảng 40 tuổi, không quen biết, đeo khẩu trang 01 gói nhỏ ma túy được gói bằng giấy màu trắng có dòng kẻ với giá 200.000 đồng, mục đích để sử dụng cho bản thân. Ng không mở ra kiểm tra mà cất giấu gói ma túy vừa mua được vào túi quần bên trái, phía trước đang mặc rồi đi xe đạp tìm nơi sử dụng. Khoảng 11 giờ 30 phút cùng ngày, Ng đi đến đường DH07, thuộc địa phận thôn L, xã T, huyện V, tỉnh Thái Bình thì bị tổ công tác Công an huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình yêu cầu cho kiểm tra. Tổ công tác mời người dân chứng kiến, tiến hành kiểm tra và thu giữ tại túi quần bên trái phía trước Ng đang mặc 01 gói nhỏ bên ngoài gói bằng giấy màu trắng có dòng kẻ, bên trong chứa chất bột màu trắng, dạng cục. Ng khai nhận là Heroine mua về để sử dụng cho bản thân, kiểm tra xe đạp không phát hiện, thu giữ gì. Tổ công tác đã dẫn giải Ng đến trụ sở Công an xã T, huyện V, tỉnh Thái Bình lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ và niêm phong vật chứng; quản lý của Ng 01 xilanh chưa qua sử dụng, 01 xe đạp sơn màu xanh đã cũ đã qua sử dụng.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như trên.

Kết luận giám định số 199/KL-KTHS ngày 16 tháng 02 năm 2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình kết luận: “Mẫu vật gửi giám định là ma túy, loại Heroin (Heroine), có khối lượng 0,1568 gam (không phẩy một nghìn năm trăm sáu mươi tám gam).

Cáo trạng số 34/CT-VKSVT ngày 11 tháng 5 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình đã truy tố bị cáo Trần Văn Ng về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vũ Thư giữ nguyên quan điểm như đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Văn Ng phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Văn Ng từ 01 năm 09 tháng đến 02 năm 03 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 0,1463 gam ma túy, loại Heroine hoàn trả sau giám định trong phong bì số 199/KL-KTHS của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình và 01 xilanh.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo đồng ý với tội danh Viện kiểm sát nhân dân huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình đã truy tố và không có ý kiến tranh luận gì đối với bản luận tội của Kiểm sát viên.

Bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về căn cứ kết tội đối với bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, với hành vi cáo trạng đã mô tả và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác thu thập được có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; kết luận giám định; biên bản ghi lời khai của những người chứng kiến cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 15 tháng 02 năm 2023, tại đường DH 07 thuộc địa phận thôn L, xã T, huyện V, tỉnh Thái Bình, tổ công tác Công an huyện Vũ Thư phát hiện, bắt quả tang Trần Văn Ng có hành vi tàng trữ trái phép 01 gói Heroin, có khối lượng 0,1568 gam tại túi quần bên trái phía trước đang mặc, mục đích để sử dụng cho bản thân. Hành vi của bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

…..

c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 Có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”

Đánh giá tính chất, mức độ hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của nhà nước ta, gây ảnh hưởng đến an ninh, trật tự và an toàn xã hội. Trong những năm gần đây, tình hình tệ nạn ma túy đã và đang trở thành hiểm họa lớn của toàn nhân loại. Ma túy gây tác hại cho sức khoẻ, làm suy thoái nòi giống, phẩm giá con người, phá hoại hạnh phúc gia đình. Đặc biệt, ma túy còn là nguyên nhân chủ yếu làm phát sinh nhiều loại tội phạm, tệ nạn xã hội. Bị cáo là người đã thành niên, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, mặc dù biết rõ tác hại của ma túy cũng như mức độ nguy hiểm, hậu quả của hành vi do mình thực hiện nhưng vẫn thực hiện tội phạm với lỗi cố ý, thể hiện sự coi thường pháp luật.

Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo bị kết án vào năm 2021, chưa được xóa án tích mà lại phạm tội do cố ý nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về mức hình phạt và biện pháp chấp hành hình phạt: Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, nhân thân của bị cáo và các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy cần phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc, buộc bị cáo phải cách ly ra khỏi xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng giáo dục, cải tạo đối với bị cáo và phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: Xét tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo, cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo theo quy định tại Khoản 5 của Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Về vật chứng, tài sản thu giữ:

Chiếc xe đạp Cơ quan xác định là tài sản hợp pháp của anh Trịnh Xuân K, sinh năm 1978, trú tại thôn P, xã T, huyện V, tỉnh Thái Bình. Anh K không biết bị cáo mượn xe đi mua ma túy nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại xe cho anh K là đúng quy định tại khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Đối với 0,1463 gam ma túy, loại Heroine hoàn trả sau giám định niêm phong trong phong bì số 199/KL-KTHS của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình là vật chứng của vụ án, thuộc loại Nhà nước độc quyền quản lý và cấm tàng trữ cần tịch thu để tiêu huỷ.

01 xilanh bị cáo mua để sử dụng ma túy, không còn giá trị cần tịch thu để tiêu huỷ.

Về vấn đề khác trong vụ án: Đối với người phụ nữ bán ma tuý cho bị cáo tại quán nhỏ gần chợ C thuộc phường Q, thành phố B, tỉnh Thái Bình, bị cáo khai không biết tên, tuổi, địa chỉ nên cơ quan điều tra không có căn cứ điều tra, xử lý. Số tiền mua ma túy là do bị cáo lao động mà có.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Văn Ng phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Văn Ng 02 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 15 tháng 02 năm 2023.

Phạt bổ sung bị cáo Trần Văn Ng 5.000.000đồng (năm triệu đồng) sung ngân sách Nhà nước.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 0,1463 gam ma túy, loại Heroine hoàn trả sau giám định niêm phong trong phong bì số 199/KL-KTHS của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình và 01 xilanh chưa qua sử dụng.

(Vật chứng của vụ án đã chuyển Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vũ Thư theo biên bản giao nhận, bảo quản tang vật, tài sản thi hành án ngày 16 tháng 5 năm 2023 và Phiếu nhập kho đề ngày 16 tháng 5 năm 2023).

4. Về án phí: Áp dụng Điều 135; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm,thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Trần Văn Ng phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

6. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo Trần Văn Ng có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 16 tháng 6 năm 2023).

Cỡ chữ