vanban.org

Bản án 35/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định Tuyên án 31/08/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Vũ Duy T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt bị cáo Vũ Duy T 21 (hai mươi mốt) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 05 tháng 7 năm 2023. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Duy T tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Vũ Duy T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN V
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 35/2023/HS-ST
Ngày 31-8-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN V, TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Gấm.

Các hội thẩm nhân dân: Ông Trần Đình Mạnh.

Bà Trần Thị Định.

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Kiều Trang - Thư ký Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Nam Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện V tham gia phiên tòa:

Tại điểm cầu trung tâm: Ông Đỗ Văn Thảo - Kiểm sát viên.

Tại điểm cầu thành phần: Bà Nguyễn Thị Thu Hiên – Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 8 năm 2023, tại điểm cầu trung tâm phòng xét xử trực tuyến - Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Nam Định và điểm cầu thành phần - phòng xét xử trực tuyến - Công an huyện V, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai theo hình thức trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 32/2023/TLST-HS ngày 15 tháng 8 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 29/2023/QĐXXST - HS ngày 18 tháng 8 năm 2023 đối với bị cáo:

Vũ Duy T, sinh năm: 1984 tại Nam Định.

Nơi ĐKHKTT và nơi ở: thôn Đ, xã ĐA, huyện V, tỉnh Nam Định; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; trình độ văn hoá: 9/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; tiền án: Ngày 31-7-2020 bị Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Nam Định xử phạt 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo bản án số 30/2020/HS-ST. Đến ngày 26-8-2021, T chấp hành xong án phạt tù, trở về địa phương sinh sống; tiền sự, nhân thân: Không; con ông Vũ Duy N, sinh năm: 1961; con bà Hoàng Thị M, sinh năm: 1963; có vợ là Đỗ Thị K, sinh năm: 1984 và 02 con. bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 05-7-2023 đến nay. “Có mặt”.

* Người tham gia tố tụng khác:

- Người làm chứng:

Ông Vũ Duy Th, sinh năm 1971; “Vắng mặt”.

- Người chứng kiến:

+ Ông Vũ Đình C; sinh năm 1958; “Vắng mặt”.

+ Ông Nguyễn Đình V1; sinh năm 1970; “Vắng mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn ra tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 05-7-2023, tổ công tác Công an xã TK phối hợp với Công an xã Tr, huyện V, tỉnh Nam Định đang làm nhiệm vụ thì phát hiện và bắt quả tang tại Quốc lộ 38B đoạn qua khu vực chợ Dần thuộc xóm Nhì, xã Tr; Vũ Duy T đang có hành vi cất giấu trái phép 01 gói nhỏ có đặc điểm vỏ ngoài là giấy màu bạc, bên trong có chứa chất bột dạng cục màu trắng để trong vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long màu vàng. T khai nhận đây là gói ma tuý loại heroine vừa mua với giá 100.000 đồng để sử dụng.

Tại cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V, Vũ Duy T khai nhận hành vi của mình như sau:

Do cần ma túy để sử dụng nên khoảng 12 giờ ngày 05-7-2023, T một mình điều khiển xe mô tô nhãn hiệu SYM Star BKS 18Z9-7321 đi từ nhà đến khu vực xã Tr để tìm mua ma túy. Khi đi đến khu vực xóm Nhì xã Tr thì T gặp một người bạn tên là Huy (T với Huy là bạn nghiện với nhau, tuy nhiên T không biết địa chỉ cụ thể của Huy). Biết Huy có chỗ để mua ma túy nên T có đưa cho Huy số tiền 100.000 đồng và nhờ Huy mua hộ ma túy cho mình, Huy đồng ý và cầm tiền đi mua ma túy cho T. Một lúc sau, Huy đưa về cho T 01 gói nhỏ ma túy, T nhận gói ma túy và bỏ vào túi áo trước ngực đang mặc của mình, rồi điều khiển xe mô tô ngược theo đường cũ để về nhà. Khi vừa đi qua khu vực chợ Dần thuộc xóm Nhì, xã Tr thì tổ công tác Công an xã TK và Công an xã Tr, huyện V đang làm nhiệm vụ tại đây phát hiện T có biểu hiện nghi vấn nên đã yêu cầu T dừng xe để kiểm tra. Quá trình kiểm tra, T đã tự giác lấy trong túi áo trước ngực đang mặc của mình giao nộp cho cơ quan Công an 01 gói ma tuý có đặc điểm vỏ ngoài là giấy màu bạc, bên trong có chứa chất bột dạng cục màu trắng để trong vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long màu vàng. Cơ quan Công an đã mời người chứng kiến, lập biên bản, thu giữ, niêm phong số ma tuý trên của T trong phong bì thư ký hiệu M1. Ngoài ra, còn thu giữ của T 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu SYM Star 110 BKS 18Z9-7321, 01 mẫu nước tiểu được đựng trong chai nhựa ký hiệu N1.

Ngày 07-7-2023, Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định đã có bản Kết luận giám định số 1078/KL-KTHS kết luận: Mẫu bột dạng cục màu trắng trong 01 gói giấy màu bạc, trong phong bì thư được niêm phong ký hiệu M1 gửi giám định là ma tuý. Loại ma tuý: Heroine. Khối lượng mẫu M1: 0,309 gam.

Ngày 07-7-2023, Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định đã có bản Kết luận giám định số 1079/KL-KTHS kết luận: Có tìm thấy thành phần các chất gồm: Morphine, Codeine và 6-MAM trong một mẫu nước tiểu được niêm phong ký hiệu N1 gửi giám định.

* Morphine, Codeine và 6-MAM là các sản phẩm chuyển hóa của Heroine trong nước tiểu).

Về vật chứng: Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V đã xác định chiếc xe mô tô nhãn hiệu SYM Star 110 BKS 18Z9-7321 là của anh Vũ Duy Th, anh Thủy không biết việc T dùng chiếc xe của mình để đi mua ma túy nên ngày 22-7-2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V đã trả lại chiếc xe trên cho anh Thủy quản lý và sử dụng.

Tại bản cáo trạng số 36/CT-VKSVB ngày 14-8-2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện V, tỉnh Nam Định đã truy tố bị cáo Vũ Duy T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

- Bị cáo T trình bày toàn bộ hành vi của mình như nội dung vụ án đã nêu trên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện V thực hành quyền công tố. Sau khi phân tích, đánh giá các chứng cứ buộc tội, tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội, nhân thân, động cơ mục đích, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đã giữ nguyên quan điểm truy tố như bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Về điều luật: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vũ Duy T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: Đề nghị xử phạt bị cáo Vũ Duy T từ 18 tháng đến 24 tháng tù.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy đã thu giữ và 01 chai nhựa được niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Nam Định.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Vũ Duy T phải nộp theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện V; Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện V; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đều đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về chứng cứ và tội danh đối với hành vi của bị cáo: Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và cũng phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Vật chứng thu giữ; Kết luận giám định; lời khai của bị cáo, của người làm chứng tại cơ quan điều tra do đó Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận:

Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 05-7-2023, tại khu vực chợ Dần thuộc xóm Nhì, xã Tr, huyện V, tỉnh Nam Định; Vũ Duy T đã có hành vi cất giấu trái phép trong người 01 gói ma túy loại Heroine có khối lượng là 0,309 gam với mục đích để sử dụng thì bị Công an xã TK và Công an xã Tr, huyện V phát hiện, bắt quả tang.

Như vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện V truy tố và luận tội hành vi của bị cáo Vũ Duy T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật và đề nghị của Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp với quy định của pháp luật.

. Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm tới chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý; ngoài ra còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại địa phương; bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn cố ý thực hiện do đó bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội của bị cáo.

. Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Về nhân thân: Không có.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị can Vũ Duy T đang có tiền án, cụ thể: Ngày 31-7-2020 bị Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Nam Định xử phạt 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo bản án số 30/2020/HS-ST, ngày 26-8-2021 bị cáo chấp hành xong bản án, như vậy bị cáo chưa được xoá án tích do đó bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Tái phạm” theo quy định tại Điểm h Khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo T thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình do đó bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

. Về đường lối xử lý hành vi phạm tội của bị cáo: Căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Hội đồng xét xử thấy cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có đủ điều kiện để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo tàng trữ ma tuý mục đích để sử dụng do đó không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

. Về xử lý vật chứng: Các vật chứng đã thu giữ là ma tuý và chai nhựa căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu cho tiêu huỷ: 01 phong bì niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Nam Định có chứa mẫu vật giám định, mặt trước có ghi: Số 1078/KL-KTHS, “Kính gửi: Cơ quan CSĐT – CAH Vụ Bản. Hoàn trả mẫu vật giám định vụ: Vũ Duy T, SN 1984. Phạm tội về ma túy, ngày 05/7/2023” và 01 chai nhựa được niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Nam Định có chứa mẫu vật giám định, mặt trước có ghi: Số 1079/KL-KTHS, (N1), “Kính gửi: Cơ quan CSĐT – CAH Vụ Bản, tỉnh Nam Định. Hoàn trả mẫu vật giám định vụ: Vũ Duy T, SN 1984. Phạm tội về ma túy, ngày 05-7-2023”.

. Về tư cách tham gia tố tụng: Anh Vũ Duy Th đã nhận lại xe mô tô nhãn hiệu SYM Star 110 BKS 18Z9-7321 và không có yêu cầu đề nghị gì do đó không xác định anh Thuỳ là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án.

. Trong vụ án này Vũ Duy T khai nhận đã nhờ một người bạn tên Huy (T không biết địa chỉ cụ thể của Huy) mua ma túy hộ. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V đã tiến hành các biện pháp điều tra nhưng chưa đủ căn cứ để xác định người thanh niên tên Huy nên đã tách ra để điều tra, xử lý sau là phù hợp.

Sau khi bắt quả tang ngày 05-7-2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V đã thu giữ, giám định mẫu nước tiểu của Vũ Duy T có thành phần các chất là sản phẩm chuyển hóa của Heroine. Tại cơ quan điều tra Vũ Duy T cũng khai nhận vào ngày 04-7-2023 T có sử dụng trái phép chất ma túy (heroine). Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền là 1.500.000 đồng đối với Vũ Duy T về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” là đúng quy định của pháp luật.

. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Vũ Duy T phải nộp theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

1. Tuyên bố bị cáo Vũ Duy T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

2. Xử phạt bị cáo Vũ Duy T 21 (hai mươi mốt) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 05 tháng 7 năm 2023.

3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy:

- 01 phong bì niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Nam Định có chứa mẫu vật giám định, mặt trước có ghi: Số 1078/KL-KTHS, “Kính gửi: Cơ quan CSĐT – CAH Vụ Bản. Hoàn trả mẫu vật giám định vụ: Vũ Duy T, SN 1984. Phạm tội về ma túy, ngày 05/7/2023”.

- 01 chai nhựa được niêm phong, mặt trước có ghi: Số 1079/KL-KTHS, (N1), “Kính gửi: Cơ quan CSĐT – Công an huyện V. Hoàn trả mẫu vật giám định vụ: Vũ Duy T, SN 1984. Phạm tội về ma túy, ngày 05-7-2023”.

(Vật chứng có đặc điểm, chủng loại như biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 22-8-2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện V).

4. Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Vũ Duy T phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).

5. Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ