- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thị Thùy T - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Thùy T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI S | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 35/2023/HS-ST Ngày 14 tháng 7 năm 2023. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI S, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Triều.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Ngô Thanh Ngọc Cảnh và ông Trần Quang Thái.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Khuyên - Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thoại S tham gia phiên tòa: Ông Dương Ngọc Sử - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thoại S xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 21/2023/TLST-HS ngày 17 tháng 4 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 33/2023/QĐXXST- HS ngày 30 tháng 6 năm 2023 đối với bị cáo:
Nguyễn Thị Thùy T, sinh năm 1973. Nơi cư trú: ấp H, xã Đ, huyện T, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thành K (đã chết) và bà Nguyễn Thị C (đã chết); Anh, chị, em ruột có năm người, bị cáo là người thứ năm; con có 04 người, lớn nhất sinh năm 1992, nhỏ nhất sinh năm 2008.
Tiền án; tiền sự: Không.
Bị cáo tại ngoại.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Đào Thị B, sinh năm 1960. Nơi cư trú: ấp B, xã T, huyện T, tỉnh An Giang (đã chết)
Đại diện hợp pháp của bị hại:
1/ Anh Nguyễn Tấn P, sinh năm 1982. Nơi cư trú: ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Kiên Giang (vắng mặt)
2/ Anh Nguyễn Tấn S, sinh năm 1984. Nơi cư trú: ấp B, xã T, huyện T, tỉnh An Giang (vắng mặt)
3/ Anh Nguyễn Tấn Đ, sinh năm 1986. Nơi cư trú: ấp B, xã T, huyện T, tỉnh An Gian (có mặt)
Anh Nguyễn Tấn P, anh Nguyễn Tấn S ủy quyền cho anh Nguyễn Tấn Đ tham gia phiên tòa. Văn bản ủy quyền ngày 23 tháng 12 năm 2022
Người làm chứng:
1/ Anh Nguyễn Văn N, sinh năm 1988 (vắng mặt)
2/ Chị Nguyễn Thị Thúy T1, sinh năm 1983 (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 14 giờ ngày 12/11/2022, Nguyễn Thị Thùy T điều khiển xe mô tô biển số 67M1-356.72 của T đứng tên chủ sở hữu chở Đào Thị B trên đường tỉnh 943, hướng thị trấn Phú Hòa - xã Định Thành. Khi đến khu vực ấp T, xã V, huyện Thoại S, do ngủ gật, không làm chủ tay lái nên T điều khiển xe mô tô đâm vào trụ điện số 473-471TS/152 bên lề phải cùng hướng điều khiển gây tai nạn giao thông làm T, Bảy bất tỉnh và được đưa đến Bệnh viện đa khoa trung tâm An Giang cấp cứu, điều trị nhưng Bảy tử vong, còn T bị thương nhẹ.
Vật chứng thu giữ:
- 01 (một) xe mô tô biển số 67M1-356.72, số máy JA32E1104309, số khung RLHJA321XEY058523;
- 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 012823;
- 01 (một) giấy phép lái xe hạng A1, số 891057006837 tên Nguyễn Thị Thùy T.
Theo biên bản khám nghiệm hiện trường ngày 12/11/2022 của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Thoại S, ghi nhận:
Đoạn đường xảy ra vụ tai nạn giao thông đường bộ thuộc đường tỉnh 943, cách cầu kênh ông Cò nhìn về hướng thị trấn Phú Hòa khoảng 500m. Nơi xảy ra vụ việc thuộc phần đường bên phải đường tỉnh 943 (hướng thị trấn Phú Hòa - thị trấn Núi Sập), là đoạn đường thẳng, mặt đường trải nhựa tương đối bằng phẳng, chiều rộng phần đường là 6,7m, ở giữa có vạch kẻ đường đứt quảng chia phần đường thành 02 làn xe chạy, làn đường bên trong rộng 2,75m.
Chọn trụ điện số 473-471TS/152 nằm bên phải đường tỉnh 943 (hướng thị trấn Phú Hòa - thị trấn Núi Sập) làm mốc chuẩn và mép lề bên phải đường tỉnh 943 (hướng thị trấn Phú Hòa - thị trấn Núi Sập) làm lề chuẩn.
Hiện trường được đánh số thứ tự từ 01 đến 03, cụ thể:
- Vị trí số 01: Vết màu đỏ (nghi là máu), dạng vũng, kích thước (70 x 50)cm, tâm cách lề chuẩn là 0,45m và cách trục sau xe mô tô biển số 67M1-356.72 là 0,8m.
- Vị trí số 02: Xe mô tô biển số 67M1-356.72, đầu xe quay về hướng cột mốc chuẩn (kề sát cột mốc chuẩn), đuôi xe quay về hướng dải phân cách, trạng thái ngã bên phải. Trục trước ra khỏi mặt đường nhựa, nằm trên nền cát, đá (bên phải đường tỉnh 943) cách lề chuẩn 0,3m và cách điểm mốc chuẩn là 0,7m. Trục sau nằm trên mặt đường nhựa và cách lề chuẩn là 0,4m.
- Vị trí số 03: vết màu nâu đỏ (nghi là máu), dạng nhỏ giọt, kích thước (5 x 5)cm, tâm cách lề chuẩn 0,7m, cách trục sau xe mô tô biển số 67M1-356.72 là 1,1m; Nhiều vết lông-tóc màu đen bám trên thanh kim loại đường kính 06cm, cao cách nền 1,35m, màu xanh-trắng được cố định trên trụ điện số 473-471TS/152; Nhiều vết trầy, xước bê tông, vết trược, bám S màu xanh, đen, kích thước (50 x 30)cm, trên trụ điện số 473-471TS/152, tâm cao cách nền 0,25m.
Tại Biên bản khám phương tiện xe mô tô biển số 67M1-356.72 ngày 12/11/2022 của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Thoại S, ghi nhận:
- Mặt ngoài chắn bùn trước bên phải bị mài mòn, kích thước (3 x 1)cm.
- Trục trước bên phải bị cong vênh hướng từ trước ra sau.
- Mặt trước - trục trước bên phải bị mài mòn, trầy xước kim loại, kích thước (2,5 x 1,5)cm, cao cách nền 0,25m.
- Chóa gương đèn chiếu sáng phía trước-bên phải bị bể vỡ, kích thước (7 x 4)cm
- Ốp kim loại ốc chân gương chiếu hậu, bên phải bị cong vênh, biến dạng hướng từ trước ra sau, từ trên xuống dưới.
- Nắp trước tay lái bên phải bị trầy xước, rạn nứt, kích thước (15 x 5)cm.
- Đầu tay thắng trước bên phải bị gãy, rời khỏi vị trí ban đầu.
- Mặt trước tay thắng bên phải bị mài mòn, trầy xước, kích thước (5,5 x 0,4)cm
- Mặt nạ trước, yếm xe bên phải bị bể vỡ, rạn nứt phức tạp và rời khỏi vị trí ban đầu.
- Gác chân trước bên phải và cần đạp phân bị cong vênh hướng từ trước ra sau
- Yếm xe bên trái bị bể vỡ, rạn nứt phức tạp và rời khỏi vị trí ban đầu.
Tại bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 411/22/TT ngày 12/11/2022 của Trung tâm pháp y tỉnh An Giang, kết luận đối với tử thi Đào Thị B, sinh năm 1960, ghi nhận:
+ Dấu hiệu chính qua giám định:
- Sây sát + bầm máu rải rác nhiều nơi trên cơ thể.
- Chảy máu mũi, miệng, lỗ tai trái.
- Màng cứng được vá chùng căng phồng.
- Cổ lõng lẻo.
- Bầm tụ máu quanh cột sống cổ.
- Gãy trật đốt sống cổ C1 - C2, chèn ép tủy.
+ Nguyên nhân chết: Gãy trật cột sống cổ, chèn ép tủy.
Tại Cáo trạng số 28/CT-VKSTS-HS ngày 14/4/2023 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thoại S, tỉnh An Giang đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị Thùy T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.
Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thị Thùy T đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dụng Cáo trạng đã nêu.
Người đại diện hợp pháp của bị hại anh Nguyễn Tấn Đ, Nguyễn Tấn P, Nguyễn Tấn S (con của Đào Thị B) khai: Sự việc Bảy bị tai nạn giao thông chết thì Đ, P, S không chứng kiến. P, S ủy quyền cho Đ tham gia giải quyết vụ án. Đ không yêu cầu T bồi thường và có đơn xin bãi nại, giảm nhẹ hình phạt.
Những người làm chứng anh Nguyễn Văn N, chị Nguyễn Thị Thúy T1 khai: Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 12/11/2022, Nhựt đang đánh bida trong quán của Ty thì nghe tiếng xe mô tô va chạm trước quán nên Nhựt, Ty đi ra xem phát hiện 02 người phụ nữ đi trên xe mô tô đâm vào trụ điện trước nhà của Ty nằm bất tỉnh nên Ty điện thoại cho xe cứu thương đến chở cả hai người đi cấp cứu.
Đại diện Viện Kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất của vụ án, mức độ phạm tội của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 đã sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thùy T mức án từ 09 tháng đến 01 năm 06 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 01 năm 06 tháng đến 03 năm.
Về trách nhiệm dân sự: Do đại diện bị hại không yêu cầu bồi thường nên không đề cập xem xét.
Về phần vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 xử lý theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng:
Tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng:
Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Thoại S, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thoại S, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại, người làm chứng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, anh P, anh S ủy quyền cho anh Đ tham gia tố tụng, việc ủy quyền này phù hợp quy định pháp luật nên được chấp nhận; ngoài ra trong vụ án này còn có người làm chứng vắng mặt không rõ lý do, mặc dù Tòa án đã tống Đ giấy triệu tập hợp lệ. Xét thấy, sau khi vụ án xảy ra, người làm chứng đã có lời khai trong quá trình điều tra, khi cần thiết Hội đồng xét xử sẽ công bố lời khai của họ trước tòa. Căn cứ Điều 292, Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.
Về nội dung: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, phù hợp với lời khai của người đại diện theo ủy quyền của người đại diện hợp pháp của người bị hại; những người làm chứng về thời gian, địa điểm xảy ra tội phạm và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để kết luận: Khoảng 14 giờ ngày 12/11/2022, bị cáo Nguyễn Thị Thùy T điều khiển xe mô tô biển số 67M1-356.72 chở Đào Thị B trên đường tỉnh 943, hướng thị trấn Phú Hòa
- xã Định Thành. Khi đến khu vực ấp T, xã V, huyện Thoại S, do ngủ gật, không làm chủ tay lái nên bị cáo điều khiển xe mô tô đâm vào trụ điện số 473-471TS/152 bên lề phải cùng hướng điều khiển gây tai nạn giao thông làm bị cáo bị thương tích và bà Bảy chết.
Hành vi nêu trên của bị cáo đã vi phạm khoản 1 Điều 9 Luật Giao thông đường bộ về người tham gia giao thông phải đi bên phải theo chiều đi của mình, đi đúng làn đường, phần đường quy định; vi phạm khoản 19 Điều 8 Luật giao thông đường bộ về việc xâm phạm tính mạng, sức khỏe, tài sản của người bị nạn và người gây tai nạn.
Như vậy, hành vi nêu trên của bị cáo đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015, có khung hình phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
Hành vi phạm tội Nguyễn Thị Thùy T là nguy hiểm cho xã hội trực tiếp xâm phạm đến tính mạng của con người, gây đau thương mất mát về vật chất, tinh thần cho gia đình người bị hại; đồng thời xâm phạm đến an toàn công cộng, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Do đó việc đưa vụ án ra xét xử là cần thiết nhằm giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.
Xét thấy bị cáo Nguyễn Thị Thùy T là người đã trưởng thành, có đủ nhận thức để biết khi tham gia giao thông phải chấp hành nghiêm Luật giao thông đường bộ; nhưng do xem thường pháp luật nên khi điều khiển xe mô tô, bị cáo không chú ý quan sát, không đi đúng phần đường, hậu quả đâm xe vào trụ điện làm bà Bảy tử vong; lỗi hoàn toàn thuộc về bị cáo. Do đó, khi lượng hình cần áp dụng hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội bị cáo đã gây ra
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo xuất thân thành phần lao động, hiểu biết pháp luật hạn chế; bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; quá trình điều tra cũng như tại phiên toà thành khẩn khai báo, tỏ rõ thái độ ăn năn hối cải; vụ án xảy ra bị cáo cũng bị thương tích; bị hại trong vụ án là người thân trong gia đình bị cáo; đại diện hợp pháp của bị hại tha thiết xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo Nguyễn Thị Thùy T là người có nhân thân tốt, ngoài lần phạm tội này, bị cáo chưa từng vi phạm pháp luật. Bị cáo có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng, có khả năng tự cải tạo và việc bị cáo cải tạo tại địa phương không gây nguy hiểm cho xã hội. Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết áp dụng hình phạt tù cho hưởng án treo như đại diện Viện kiểm sát đề nghị mà áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ cũng đủ sức răn đe, cải tạo đối với bị cáo.
Do hoàn cảnh kinh tế gia đình bị cáo khó khăn, nguồn thu nhập không ổn định, đang nuôi con nhỏ nên không buộc bị cáo khấu trừ thu nhập theo quy định.
Các biện pháp tư pháp khác:
Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa, đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường gì nên Hội đồng xét xử ghi nhận và không đề cập xem xét.
Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra, cơ quan điều tra đã thu giữ được 01 xe mô tô biển số 67M1-356.72, số máy JA32E1104309, số khung RLHJA321XEY058523; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 012823; 01 giấy phép lái xe hạng A1, số 891057006837 tên Nguyễn Thị Thùy T.
Xét thấy, chiếc xe này của bị cáo đứng tên chủ sở hữu cần tuyên trả lại cho bị cáo.
Đối với giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 012823 và giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Nguyễn Thị Thùy T, cần trả lại cho bị cáo.
Bị cáo Nguyễn Thị Thùy T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Thùy T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 36 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thùy T 06 (sáu) tháng cải tạo không giam giữ. Thời gian chấp hành hình phạt được tính từ ngày Ủy ban nhân dân xã Định Thành, huyện Thoại S, tỉnh An Giang nhận được quyết định và bản sao bản án.
Giao bị cáo Nguyễn Thị Thùy T cho Ủy ban nhân dân xã Định Thành, huyện Thoại S, tỉnh An Giang giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo T có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã Định Thành, huyện Thoại S, tỉnh An Giang trong việc giám sát, giáo dục đối với bị cáo.
Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Trả lại cho bị cáo Nguyễn Thị Thùy T 01 xe mô tô biển số 67M1-356.72, số máy JA32E1104309, số khung RLHJA321XEY058523; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 012823; 01 giấy phép lái xe hạng A1, số 891057006837 tên Nguyễn Thị Thùy T (tất cả đã qua sử dụng).
(Vật chứng này hiện do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thoại S quản lý theo Quyết định chuyển vật chứng số 24/QĐ-VKSTS ngày 14/4/2023 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thoại S).
Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/ 12/ 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
- Buộc bị cáo Nguyễn Thị Thùy T chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; riêng người đại diện hợp pháp của người bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh An Giang; - VKSND tỉnh An Giang; - Sở Tư pháp An Giang; - VKSND huyện Thoại S; - Cơ quan điều tra CA huyện Thoaị S; - Cơ quan THA hình sự huyện Thoại S; - Chi cục THADS huyện Thoại S; - Bị cáo, đại diện hợp pháp bị hại (để thi hành); - Lưu: Hồ sơ, Văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Triều |