- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Đức V Tàng trữ trái phép chất ma tuý - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS n…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức V phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH HÀ TỈNH HẢI DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 35/2023/HS-ST Ngày 21-6-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH HÀ , TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Tuân.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Bùi Thị Vân và ông Hoàng Ngọc Thành.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thuỷ - Thư ký Toà án, Tòa án nhân dân huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Hưng - Kiểm sát viên.
Ngày 21/6/2023 tại điểm cầu trung tâm Tòa án nhân dân huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương và điểm cầu thành phần tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương, Toà án nhân dân huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm, trực tuyến, công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 30/2023/TLST-HS ngày 19/5/2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 37/2023/QĐXXST-HS ngày 09/6/2023, Thông báo thay đổi thời gian mở phiên toà số 37/TB-TA ngày 12/6/2023, đối với bị cáo:
- NGUYỄN ĐỨC V sinh năm 1987 tại tinh Hải Dương; nơi cư trú: Thôn A,̉ xã T, huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ V hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Cvà bà Nguyễn Thị V; vợ là Hoàng Thị Đ (đã ly hôn) và có hai con; tiền án, tiền sự: Không; về nhân thân: Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 12 ngày 29/9/2011 của Công an phường Nhị Châu, TP Hải Dương, tỉnh Hải Dương xử phạt V 750.000đ về hành vi cất giấu trái phép chất ma tuý, nộp phạt ngày 29/9/2011; bị tạm giữ từ ngày 24/02/2023 đến ngày 01/3/2023 chuyển tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương; có mặt tại phiên toà.
- Người làm chứng: Ông Nguyễn Ngọc S, vắng mặt tại phiên toà.
- Người hỗ trợ tổ chức phiên toà tại điểm cầu thành phần, tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương, gồm: Bà Tiêu Thị Hồng, Kiểm sát viên, VKSND huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương. Bà Hoàng Thị Thuỳ Dương, Thư ký Toà án, TAND huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương. Ông Nguyễn Văn Chính, cán bộ Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Đức V là người nghiện ma tuý. Khoảng 12 giờ 00 phút ngày 24/02/2023, V đi bộ từ thôn A, xã T đến thôn Đ, xã T1, huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương để mua ma tuý, mục đích để sử dụng. Tại đây, V mua của người không rõ tên tuổi, địa chỉ một gói Heroin với giá 100.000đ, sau khi mua xong, V đi tìm nơi sử dụng. Khoảng 12 giờ 40 phút, ngày 24/02/2023, khi V đi trên đường thuộc thôn Đ, xã T1, huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương thì bị lực lượng Công an phát hiện, bắt quả tang; thu giữ tại lòng bàn tay trái của V một gói giấy bọc ngoài bằng giấy màu bạc, kích thước 01cm x 02cm, bên trong chứa chất bột, dạng cục, V khai nhận là ma túy, mục đích cất giấu để sử dụng cho bản thân.
Tại bản Kết luận giám định số 175/KL-KTHS ngày 26/02/2023 của phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Hải Dương, kết luận: Chất bột (dạng cục) mầu trắng trong gói giấy mầu bạc được niêm phong trong phong bì, ghi thu của V gửi đến giám định có trọng lượng là 0,240 gam là ma túy, loại Heroin.
Tại bản Cáo trạng số 29/CT-VKSHD-TH ngày 12/5/2023, VKSND huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương truy tố V về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội và xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên toà đại diện VKSND huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị: Tuyên bố bị cáo V phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy; áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo từ 13 đến 16 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; tịch thu, tiêu hủy tiêu hủy 0,198 gam ma túy là Heroin hoàn lại sau giám định, một mảnh giấy mầu bạc, một vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi đến giám định, một bơm kim tiêm, một ống nước cất. Bi ̣ cáo phải chi ̣u án phi hí nh sự̀
sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án, đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:
. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương, Điều tra viên; VKSND huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
. Về chứng cứ xác định bị cáo V có tội và điều luật áp dụng: Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người tham gia tố tụng khác trong vụ án, các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra công khai tại phiên tòa, HĐXX có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 12 giờ 40 phút ngày 24/02/2023, tại thôn Đ, xã T1, huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương, Nguyễn Đức V đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,240 gam ma túy là Heroin, mục đích để sử dụng cho bản thân, thì bị phát hiện, bắt giữ.
Xét bị cáo V là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ việc tàng trữ trái phép 0,240 gam ma túy là Heroin, mục đích để sử dụng cho bản thân là vi phạm pháp luật, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của nhà nước, gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự, an toàn xã hội. Vì vậy, hành vi của V đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Như vậy, quyết định truy tố của VKSND huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương đối với V là có căn cứ, đúng pháp luật.
. HĐXX xác định bị cáo V là người có nhân thân xấu, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi cất giấu trái phép chất ma tuý. Trong vụ án này, bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xác định, quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai nhận, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
. Về hình phạt bổ sung: Xét hoàn cảnh gia đình, nghề nghiệp của bị cáo V là lao động tự do, thu nhập không đáng kể, nên HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
. Về xử lý vật chứng: Đối với một phong bì thư dán kín niêm phong do phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hải Dương hoàn lại sau khi đã giám định bên trong có chứa chất ma túy và các vật chứng khác. Xét đây là vật cấm tàng trữ, lưu hành và liên quan đến hành vi phạm tội, nên tịch thu, tiêu hủy.
. Về án phí: Bị cáo V phải chịu án phí sơ thẩm hình sự.
. Về các vấn đề khác: Đối với người bán ma túy cho bị cáo V, quá trình điều tra chưa làm rõ được tên tuổi địa chỉ cụ thể, nên tiếp tục xác minh, xử lý sau.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Đức V.
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức V phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
2. Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức V 15 (mười lăm) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 24/02/2023.
3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự. Điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu, tiêu hủy 0,198 gam ma túy là Heroin và một vỏ phong bì niêm phong được hoàn lại sau giám định, một bơm kim tiêm, một ống nước cất.
Vật chứng nêu trên có đặc điểm theo Biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan CSĐT Công an huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương ghi ngày 13/6/2023.
4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bi ̣ cáo Nguyễn Đức V phải chịu 200.000đ án phí sơ thẩm hình sự.
5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; bi ̣ cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND huyện Thanh Hà; - VKSND tỉnh Hải Dương; - Cơ quan CSĐT, THAHS Công an huyện Thanh Hà; - Bộ phận HSNV Công an huyện Thanh Hà; - Chi cục THADS huyện Thanh Hà; - Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương; - Sở Tư pháp tỉnh Hải Dương; - Lưu hồ sơ vụ án; lưu Toà án; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Mạnh Tuân |