- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hạng A Ch - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Hạng A Ch phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƢỜNG NHÉ TỈNH ĐIỆN BIÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số 35/2023/HS-ST Ngày 20-6-2023 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƢỜNG NHÉ, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Dương Thị Nhung
Các hội thẩm nhân dân: Ông Vàng Văn Toàn
Ông Sầm Văn Nưỡng
- Thư ký phiên tòa: Bà Đao Thị Bích Thảo - Thư ký Toà án nhân dân huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên tham gia phiên tòa: Bà Điêu Thị Hà - Kiểm sát viên.
Ngày 20/06/2023 tại điểm cầu trung tâm: Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên và điểm cầu thành phần: Nhà tạm giữ Công an huyện Mường Nhé. Tòa án nhân dân huyện Mường Nhé tiến hành xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 44/2023/TLST-HS ngày 29/5/2023 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 35/2023/QĐXXST-HS ngày 08/06/2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Hạng A Ch (Tên gọi khác: Không); Sinh năm 1970 tại huyện S, tỉnh Lai Châu; Nơi cư trú: Bản N, xã H, huyện M, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: Nông nghiệp; Trình độ văn hoá: không; Dân tộc: Mông; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hạng A Gi (đã chết) và bà Giàng Thị C (đã chết); có vợ là Lầu Thị S (đã chết) và có 02 người con; Tiền sự: Không; Tiền án: Không; Nhân thân: Ngày 25/10/2012 bị Tòa án nhân dân huyện Mường Nhé xử phạt 28 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy; Ngày 12/4/2017 bị Tòa án nhân dân huyện Mường Nhé xử phạt 40 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy; Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 03/4/2023 đến ngày 12/4/2023, bị tạm giam từ 12/4/2023 đến nay, có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo: Bà Mai Thị Thanh L, Trợ giúp viên pháp lý của trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Điện Biên, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17 giờ ngày 31/3/2023 Hạng A Ch một mình đi bộ từ nhà sang bản N, xã H, huyện M tìm mua ma túy về sử dụng. Đi đến bản N, Ch gặp và mua được của một người đàn ông dân tộc Mông lạ mặt 01 gói nhỏ thuốc phiện với giá 450.000 đồng và 03 gói nhỏ Heroine với giá 120.000 đồng. Mua bán xong người đàn ông đi đâu Ch không biết, còn Ch cầm gói thuốc phiện và Heroine mua được cất giấu vào túi áo ngực bên trái mặc trên người rồi đi về nhà, cất giấu ở đầu giường ngủ. Đến 15 giờ 10 phút ngày 03/4/2023 Ch lấy số ma túy đã mua được ra sử dụng tại nhà thì bị Tổ công tác công an huyện M và công an xã H phát hiện bắt quả tang, tổ công tác thu giữ của Ch 03 gói nhỏ Heroine được gói bởi lớp nilon trong suốt và 01 gói nhỏ thuốc phiện được gói trong bao bì nilon vỏ mỳ tôm Kokomi. Ch khai nhận mục đích mua thuốc phiện và Heroine về sử dụng cho bản thân.
Kết luận giám định số 593/KL-KTHS ngày 11/4/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận: Khối lượng vật chứng thu giữ của Hạng A Ch là 0,16 gam chất bột màu trắng và 20,5 gam chất dẻo màu nâu đen; 03 mẫu chất bột màu trắng (ký hiệu M1, M2, M3) trích ra từ vật chứng thu giữ của Hạng A Ch là Heroine; mẫu chất dẻo màu nâu đen (ký hiệu M4) trích ra từ vật chứng thu giữ của Hạng A Ch gửi giám định là thuốc phiện.
Cáo trạng số 28/CT-VKS-MN ngày 29/05/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Nhé đã truy tố Hạng A Ch để xét xử về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên Cáo trạng truy tố, phần luận tội đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự: Tuyên bố bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, đề nghị xử phạt bị cáo từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 08 tháng tù; không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự; Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự: Đề nghị tịch thu tiêu hủy 18,10 gam thuốc phiện và 01 bao bì nilon vỏ mỳ tôm Kokomi; Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Tại phiên tòa người bào chữa cho bị cáo nhất trí với Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát, nhất trí với luận tội về tội danh; điều khoản áp dụng; hình phạt bổ sung; xử lý vật chứng vụ án và án phí; phần hình phạt chính đề nghị xử phạt bị cáo ở mức thấp nhất theo đề nghị của Viện kiểm sát.
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã tóm tắt ở trên và đúng như Cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố. Bị cáo không tranh luận gì với luận tội của Viện kiểm sát.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Xét hành vi phạm tội và những căn cứ xác định tội danh của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo Hạng Ch khai: Vì bản thân nghiện ma túy nên ngày 31/3/2023 bị cáo đã tìm và mua được 20,5 gam thuốc phiện và 0,16 gam Heroine của một người đàn ông lạ mặt với giá 570.000 đồng tại khu vực bản N, xã H, huyện M, tỉnh Điện Biên, bị cáo mua về với mục đích để sử dụng. Đến 15 giờ 10 phút ngày 03/4/2023 khi bị cáo đang lấy Heroine ra sử dụng tại nhà thì bị phát hiện bắt quả tang. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với lời khai và các bản cung có trong hồ sơ vụ án về thời gian, địa điểm thực hiện hành vi phạm tội, phù hợp với Kết luận giám định, Kết luận điều tra, Cáo trạng truy tố và các chứng cứ, tài liệu khác đã thu thập có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ căn cứ để xác định hành vi tàng trữ trái phép 20,5 gam thuốc phiện và 0,16 gam Heroine với mục đích để sử dụng của bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng số 28/CT-VKS-MN ngày 29/5/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Nhé truy tố bị cáo để xét xử về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
Xét tính chất vụ án: Đây là vụ án nghiêm trọng về ma túy, bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách thống nhất quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, đi ngược lại đường lối chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước trong việc đấu tranh phòng ngừa các tội phạm về ma túy, ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự địa phương. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự.
Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Bị cáo là người có nhân thân xấu, năm 2012 và năm 2017 bị xét xử về tội tàng trữ trái phép chất ma túy, đã chấp hành xong hình phạt của hai bản án trên và đã được xóa án tích. Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo thành khẩn khai báo nên chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát và người bào chữa áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về áp dụng hình phạt đối với bị cáo: Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy cần xử phạt bị cáo nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định để giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt bị cáo từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 08 tháng tù. Người bào chữa đề nghị xử phạt bị cáo ở mức thấp nhất theo đề nghị của Viện kiểm sát. Xét đề nghị của người bào chữa là thấp, chưa tương xứng với tính chất hành vi phạm tội của bị cáo nên cần xử phạt bị cáo cao hơn để đảm bảo tính răn đe.
Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự, bị cáo còn có thể chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền, xét hoàn cảnh kinh tế gia đình của bị cáo khó khăn, xác minh tại nơi ở của bị cáo không có tài sản gì có giá trị, bị cáo thuộc diện hồ nghèo, hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của Viện kiểm sát và người bào chữa không áp dụng hình phạt bổ sung theo khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.
Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho bị cáo, do bị cáo không biết tên tuổi địa chỉ của người này, Cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh nên không có cơ sở để xử lý.
Về xử lý vật chứng: Đối với 0,16 gam Heroine thu giữ của bị cáo, cơ quan điều tra đã trích mẫu test nhanh ma túy 0,06 gam và trích gửi giám định 0,10 gam, không hoàn lại mẫu vật.
Đối với 18,10 gam thuốc phiện còn lại sau khi đã trích gửi giám định (Số thuốc phiện thu giữ là 20,5 gam, đã trích giám định 2,40 gam, không hoàn lại mẫu vật giám định), xét thấy đây là vật Nhà nước cấm tàng trữ nên căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 bao bì nilon vỏ mỳ tôm Kokomi và 01 mảnh nilon trong suốt thu giữ của bị cáo, xét thấy đây và vật bị cáo dùng cất giấu ma túy nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự cần tịch thu tiêu hủy.
Về án phí: Xét thấy bị cáo là đồng bào dân tộc thiểu số, thường trú ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và đã có đơn đề nghị miễn án phí nên căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, chấp nhận đề nghị của Viện kiểm sát và người bào chữa miễn toàn bộ tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Mường Nhé, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Nhé, Kiểm sát viên, người bào chữa trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, người bào chữa. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và người bào chữa đã thực hiện đều hợp pháp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự.
1. Tuyên bố bị cáo Hạng A Ch phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
Xử phạt bị cáo Hạng A Ch 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ (Ngày 03/4/2023).
2. Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự: Tịch thu, tiêu huỷ 18,10 gam thuốc phiện còn lại sau khi đã trích gửi giám định (Số thuốc phiện thu giữ là 20,5 gam, đã trích giám định 2,40 gam, không hoàn lại mẫu vật giám định), 01 bao bì nilon vỏ mỳ tôm Kokomi và 01 mảnh nilon trong suốt. Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 29/5/2023 giữa Công an huyện Mường Nhé và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mường Nhé.
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội miễn toàn bộ tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 332, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 20/6/2023).
| Nơi nhận: - Phòng KTNV-THA (TAND tỉnh Điện Biên); - VKSND tỉnh Điện Biên; - VKSND huyện Mường Nhé; - Nhà tạm giữ, Cơ quan THAHS, Cơ quan CSĐT, bộ phận hồ sơ nghiệp vụ Công an huyện Mường Nhé; - Chi cục THADS huyện Mường Nhé; - Sở Tư pháp tỉnh Điện Biên; - Bị cáo; Người bào chữa; - Lưu HS, HSTHA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Dƣơng Thị Nhung Dƣơng Thị Nhung |