vanban.org

Bản án 35/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Mường La, tỉnh Sơn La Tuyên án 16/01/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: bị cáo Lầu A S, phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Lầu A S 19 (Mườ i chin) tháng tù giam về tội Tàng trữ́ trái phép chất ma túy. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, ta ̣m giam (ngày 21/9/2022). Không áp dụng hình phạt bổ sung – pha ̣t tiền đối với bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án số 35 ngày 16.01.2023 Lầu A S phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 24…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Lầu A S, phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ML
TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 35/2023/HS-ST
Ngày 16-01-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ML, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Thu Hà.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Quàng Thi ̣ Hỏa và ông Lò Văn Khe ̣t.

- Thư ký phiên toà: Ông Quàng Công Thành - Thư ký Tòa án nhân dân huyện ML, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện ML tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Chi Công - Kiểm sát viên.́

Ngày 16 tháng 01 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện ML, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 36/2022/TLST-HS ngày 30 tháng 12 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 35/2022/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 12 năm 2022 và Thông báo mở la ̣i phiên tòa số 02/TB-TA ngày 12/01/2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lầu A S, sinh ngày 04/10/1972, tại CL, ML, Sơn La; Nơi ĐKHKTT: Bản HS, xa NG, huyện ML, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Trỗ

̀ng tro ̣t; Trình độ văn hoá: 02/12; Dân tộc: Mông; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Đảng, đoàn thể: Không; Con ông Lầu A H (đa chết) và̃ con bà Hờ Thi ̣ M, (đã chết); Có vợ là Hờ Thi ̣ T, sinh năm 1981 và có 04 con, con lớ n nhất sinh năm 1999, con nhỏ nhất sinh năm 2006; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Chưa có án tích hoặc xử lý, xử phạt vi phạm hành chính khác; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/9/2022; Bị cáo có mặt tại phiên toà.

Người bào chữa cho bị cáo: Ông Đèo Văn H, Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý, thuô ̣c Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nướ c tỉnh Sơn La. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 02 giờ ngày 21/9/2022 ta ̣i khu vực bản HS, xa NG, Công an xã

̃ NG, huyê ̣n ML phát hiê ̣n bắt quả tang Lầu A S đang có hành vi cất giấu 02 gó i được gói bằng nilon màu trắng, bên trong chứ a chất bô ̣t màu trắng, Sáy khai nhâ ̣n là Heroine cất giấu để sử du ̣ng.

Vật chứng thu giữ: 02 gói được gói bằng nilon màu trắng, bên trong chứ a chất bô ̣t màu trắng, nghi là Heroine.

Ngày 21/9/2022 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện ML và Viện kiểm sát nhân dân huyện ML tiến hành bóc mở niêm phong và cân tịnh vật chứng thu giữ khi bắt quả tang. Kết quả: cu ̣c bô ̣t trong gói nilon màu trắng thứ nhất có khối lượng 0,21 gam, lấy 0,10 gam làm mẫu giám đi ̣nh ký hiê ̣u S1, còn la ̣i 0,11 gam ký hiê ̣u S1A nhâ ̣p kho vâ ̣t chứ ng; cu ̣c bô ̣t trong gói nilon màu trắng thứ hai có khối lượng 0,01 gam, lấy hết 0,01 gam làm mẫu giám đi ̣nh ký hiê ̣u S2. Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện ML ra quyết định trưng cầu giám định số 103. Tại Kết luận giám định số 1561 ngày 22/9/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La đã kết luận: Mẫu gửi giám định S1, S2 đều là chất ma túy; loại Heroine. Khối lượng mẫu gử i giám đi ̣nh là S1=0,10 gam, S2=0,01 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,22 gam loa ̣i Heroine. Mẫu gử i giám đi ̣nh đã sử du ̣ng hết trong quá trình giám đi ̣nh.

Quá trình điều tra và tại phiên toà, Lầu A S khai nhận: Khoảng 21 giờ ngày 20/9/2022 Lầu A S đi bô ̣ từ nhà đến bản PP, xã CL để tim mua ma tù

́y về sử du ̣ng. Đến khoảng 23 giờ cùng ngày S gă ̣p 01 ngườ i đàn ông dân tô ̣c Thái (S không biết tên, tuổi, đi ̣a chi) đang đử

́ ng ca ̣nh quán sử a xe máy gần bản PP, xã CL. S đa hõ ̉i và mua được của ngườ i này 02 gói Heroine vớ i số tiền 200.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, S cất giấu vào túi áo rồi đi bô ̣ về đến sân bóng bản HS, xã NG thi bi ̣ tổ công tác Công an xa NG, huyê ̣̃

n ML kiểm tra, phát hiê ̣n

̀ bắt quả tang.

Đối vớ i người đàn ông dân tô ̣c Thái theo lờ i khai của Lầu A S đa bã ́n ma túy cho Sáy vào ngày 20/9/2022, Lầu A S không biết tên, tuổi, địa chi, viê ̣̉

c mua bán không ai biết hoă ̣c chứ ng kiến. Ngoài lờ i khai của S Cơ quan điều tra Công an huyện ML không thu thâ ̣p được tài liê ̣u chứ ng cứ khác nên không có căn cứ điều tra mở rộng vụ án.

Tại Bản cáo trạng số 06/CT-VKSML ngày 26/12/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện ML truy tố bị cáo Lầu A S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Lầu A S đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Lầu A S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015: Xử phạt Lầu A S từ 18 đến 24 tháng tù giam; Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Đối với vật chứng của vụ án: Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì công văn của Công an huyê ̣n ML được niêm phong dán kín, (đựng 01 vỏ phong bi niêm phong cù

̃ ban đầu đa bõ ́c mở ; 02 mảnh nilon màu trắng, 01 túi nilon màu trắng ký hiê ̣u S1A).

Về án phi: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/́ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Toà án: Đề nghi ̣ miễn tiền án phi hinh sự sơ thẩm đối vớ i bi ̣ cáo.

́ ̀

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố, bị cáo nhất trí với quyết định truy tố của Viện kiểm sát.

Tại phiên tòa người bào chữa cho bị cáo khẳng định bị cáo bị khởi tố, truy tố, xét xử về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Song đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng chính sách khoan hồng của Đảng, pháp luật Nhà nước và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Vì bị cáo là người dân tộc, cư trú ở vùng điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, trinh đô ̣̀

hiểu biết, nhâ ̣n thứ c kém, sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo, vì bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, thu nhập không ổn định, tài sản không có giá trị lớn và đề nghị miễn án phí cho bị cáo.

Lời nói sau cùng của bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện ML; Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện ML; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, ngườ i bào chữa không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh: Tại phiên tòa bị cáo Lầu A S thừa nhận: Ngày 21/9/2022 Lầu A S đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,22 gam Heroine với mục đích để sử dụng thì bị Công an xã NG, huyện ML phát hiện bắt quả tang.

Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với kết quả điều tra được chứng minh như sau: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, thông báo kết quả giám định vật chứng của vụ án, lời khai của người chứng kiến.

Như vậy có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Lầu A S đã thực hiện hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy, hành vi của bị cáo đã phạm vào tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, được quy định tại Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình làm là nguy hiểm cho xã hội và bản thân, nhưng do nghiện chất ma túy nên bị cáo đã thực hiện tội phạm. Hành vi cất giấu, cất giữ trái phép 0,22 gam Heroine của bị cáo được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, tội phạm bị cáo thực hiện đã hoàn thành. Hành vi thực hiện tội phạm của bị cáo là thuộc trường hợp nghiêm trọng, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự và an toàn xã hội ở địa phương.

Về tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Toà cần xem xét chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát và ngườ i bào chữa cho bị cáo, áp dụng một tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, vì sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo.

Về hình phạt

Về hình phạt chính: Tòa cần xem xét cân nhắc xử phạt bị cáo mức hình phạt phù hợp, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi thực hiện tội phạm của bị cáo. Việc cách ly bị cáo một thời gian là cần thiết, có như vậy mới có thể đảm bảo được điều kiện và thời gian để bị cáo cải tạo, giáo dục trở thành người tốt có ích cho xã hội và gia đình, đồng thời nhằm răn đe phòng ngừa giáo dục chung.

Về hình phạt bổ sung: Khoản 5 Điều 249 quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Xét điều kiện, hoàn cảnh của bị cáo, bị cáo nghiện chất ma túy, thu nhập không ổn định, tài sản không có gì giá trị lớn, bị cáo không có khả năng thi hành, Toà cần xem xét không áp dụng đối với bị cáo.

Đối với người đàn ông theo lờ i khai của Lầu A S đa bã ́n ma túy cho Lầu A S vào ngày 20/9/2022, cơ quan chức năng không có cơ sở chứng minh, xử lý.

Về vật chứng của vụ án: 01 phong bì công văn của Công an huyê ̣n ML được niêm phong dán kín, (đựng 01 vỏ phong bi niêm phong cù

̃ ban đầu đa bõ ́c mở ; 02 mảnh nilon màu trắng; 01 túi nilon màu trắng ký hiê ̣u S1A). Là của bị cáo dùng thực hiện tội phạm, và là vâ ̣t thuô ̣c loa ̣i Nhà nướ c cấm tàng trữ, cấm lưu hành, cần tịch thu tiêu hủy.

Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, tại phiên tòa bị cáo và người bào chữa xin miễn nộp tiền án phí. Theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Toà án bị cáo thuộc trường hợp được miễn án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự:

Tuyên bố: bị cáo Lầu A S, phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Xử phạt bị cáo Lầu A S 19 (Mườ i chin) tháng tù giam về tội Tàng trữ́ trái phép chất ma túy. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, ta ̣m giam (ngày 21/9/2022).

- Không áp dụng hình phạt bổ sung – pha ̣t tiền đối với bị cáo.

2. Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tuyên tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì công văn của Công an huyê ̣n ML được niêm phong dán kín, (đựng 01 vỏ phong bi niêm phong cù

̃ ban đầu đa bõ ́c mở ; 02 mảnh nilon màu trắng; 01 túi nilon màu trắng ký hiê ̣u S1A).

(Chi tiết theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 03/01/2023 giữa Cơ quan điều tra Công an huyện ML và Chi cục Thi hành án dân sự huyện ML).

3. Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Toà án: Miễn nộp tiền án phí hinh sự̀

sơ thẩm cho bị cáo Lầu A S.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngày 16/01/2023.

Cỡ chữ