- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lầm Văn Đ - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lâm Văn Đ đã phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- Căn cứ chính? Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƢỜNG CHÀ TỈNH ĐIỆN BIÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 35/2023/HS-ST Ngày: 30/5/2023. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƢỜNG CHÀ, TỈNH ĐIỆN BIÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Quàng Văn Xôm.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông: Phạm Thế Kiên.
2. Ông: Nguyễn Khắc Thiện.
Thư ký phiên tòa: Bà Chu Thị Chức – Thư ký Toà án nhân dân huyện Mường Chà, tỉnh Điện Biên.
Đại diện Viện Kiểm Sát nhân dân huyện Mường Chà, tỉnh Điện Biên tham gia phiên toà: Ông Phạm Khá - Kiểm Sát Viên.
Ngày 30/5/2023 tại phòng xử án Tòa án nhân dân huyện Mường Chà, tỉnh Điện Biên, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 35/2023/TLST-HS ngày 27/4/2023, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 32/2023/QĐXXST- HS ngày 18 tháng 5 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lâm Văn Đ; Tên gọi khác: Không; Sinh năm 1980, tại huyện Mường Chà, tỉnh Điện Biên; Nơi cư trú và chỗ ở trước khi bị bắt: Bản N, xã M, huyện M, tỉnh Đ; Nghề nghiệp: Nông nghiệp; Dân tộc: Thái; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: Không; Con ông: Lâm Văn S (đã chết), con bà: Lù Thị C (đã chết); Vợ: Khoàng Thị H; Bị cáo có 02 con, lớn nhất sinh năm 2000, con nhỏ nhất sinh năm 2001; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Năm 2015 đi cai nghiện ma túy tại trung tâm chữa bệnh Giáo dục - Lao động tỉnh Điện Biên. Ngày 15/02/2023, bị Công an huyện Mường Chà, tỉnh Điên Biên, phát hiện bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, tạm giữ đến ngày 24/02/2023 tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Mường Chà, tỉnh Điện Biên cho đến nay, có mặt.
*) Người bào chữa cho bị cáo: Ông Lường Văn Bình - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Điện Biên, có mặt.
*) Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Khoàng Thị H - Sinh năm 1982; Địa chỉ trú tại: Bản N, xã M, huyện M, tỉnh Đ, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Để có ma túy sử dụng, khoảng 09 giờ ngày 15/02/2023, Lâm Văn Đ điều khiển xe mô tô BKS 27V1-064.01 đi vào khu vực bản Nậm Củng, xã Chà Tở, huyện Nậm Pồ để tìm mua ma túy. Khi đi đến khu vực đầu bản Nậm Củng, xã Chà Tở thì Đ trao đổi và mua được của một người đàn ông dân tộc Mông, không rõ tên và địa chỉ 01 gói Heroine được gói bằng 02 lớp nilon, lớp trong màu hồng, lớp ngoài màu xanh với giá 1.200.000 đồng. Sau khi mua được Heroine, Đ cho vào trong túi quần bên phải đang mặc, điều khiển xe mô tô đi được khoảng 10 km thì dừng xe, lấy gói Heroine cho vào trong hậu môn để cất giấu rồi tiếp tục điều khiển xe quay về nhà. Hồi 12 giờ cùng ngày khi Đ đi đến bản Nậm He, xã Mường Tùng, huyện Mường Chà, tỉnh Điện Biên thì bị tổ công tác Công an huyện Mường Chà phối hợp với Công an xã Mường Tùng phát hiện bắt quả tang, thu giữ 01 gói Heroine trong hậu môn của Đ có khối lượng 4,173 gam.
Vật chứng, đồ vật, tài liệu thu giữ: 4,173 gam Heroine, trích mẫu gửi giám định 0, 083 gam, vật chứng còn lại 4,09 gam Heroine, 01 mảnh nilon màu xanh, 01 mảnh nilon màu hồng và 01 phong bì niêm phong vật chứng ban đầu, 01 túi nilon màu trắng dùng để niêm phong vật chứng; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA AIRBLADE màu vàng, đen, BKS 27V1-064.01 kèm 01 chìa khóa xe; 01 căn cước công dân, 01 giấy phép lái xe mang tên Lâm Văn Đ; 01 chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên Khoàng Thị H; 01 con dao nhọn dài 38cm, phần lưỡi dao bằng kim loại dài 23cm, chiều rộng lưỡi dao là 3cm, phần cán dao làm bằng gỗ dài 15cm, dao được đựng trong bao dao bằng gỗ, có dây đeo bằng nhựa màu cam.
Tại bản kết luận giám định số: 349/ KL-KTHS ngày 23/02/2023 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận: Khối lượng vật chứng thu giữ của Lâm Văn Đ là: 4,173 gam. Mẫu chất bột màu trắng đục trích ra từ vật chứng thu giữ của Lâm Văn Đ là ma túy: Loại Heroine.
Tại cáo trạng số 18/CT–VKSMC ngày 26/4/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Chà, tỉnh Điện Biên truy tố Lâm Văn Đ ra trước Tòa án nhân dân huyện Mường Chà, tỉnh Điện Biên để xét xử về tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249/BLHS.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Chà, tỉnh Điện Biên giữ quyền công tố tại phiên tòa phát biểu quan điểm luận tội giữ nguyên quan điểm quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Tuyên bố bị cáo Lâm Văn Đ phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, khoản 1 Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51/BLHS: Xử phạt bị cáo Lâm Văn Đ từ 04 năm đến 04 năm 06 tháng tù; Bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, kinh tế khó khăn nên đề nghị miễn không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249/BLHS.
- Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47/BLHS, điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106/BLTTHS, đề nghị: Tịch thu tiêu hủy: 4,09 gam Heroine còn lại sau khi trừ mẫu giám định; 01 mảnh nilon màu xanh, 01 mảnh nilon màu hồng và 01 phong bì niêm phong vật chứng ban đầu.
- Tịch thu nộp ngân sách nhà nước một chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA AIRBLADE màu sơn: vàng-đen; biển kiểm soát 27V1-064.01, kèm theo 01 chìa khóa xe và 01 chứng nhận đăng ký xe máy số: 007808; cấp ngày 24/11/2014 mang tên Khoàng Thị H; địa chỉ: Bản Nậm He, xã Mường Tùng, huyện Mường Chà, tỉnh Điện Biên: Biển số đắng ký: 27V1-064.01.
- Trả lại cho bị cáo 01 giấy phép lái xe số: AT382980, cấp ngày: 13/12/2011, mang tên: Lâm Văn Đ, sinh năm 1980; 01CCCD số: 011080000769, cấp ngày: 16/4/2021, mang tên Lâm Văn Đ; SN: 1980, trú tại: Bản N, xã M, huyện M, tỉnh Đ, 01 con dao nhọn dài 38 cm, phần lưỡi dao bằng kim loại dài 23 cm, chiều rộng lưỡi dao là 3 cm, phần cán dao làm bằng gỗ dài 15 cm, dao đã cũ, đã qua sử dụng, được bỏ trong bao dao bằng gỗ, có dây đeo bằng nhựa màu cam không liên quan đến hành vi phạm tội.
- Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số sống ở vùng kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
- Nguồn gốc ma túy mà bị cáo bị thu giữ bị cáo khai mua của một người đàn ông dân tộc Mông. Tuy nhiên bị cáo, không biết tên, tuổi, địa chỉ, lai lịch của người này, nên không có cơ sở để điều tra xử lý theo quy định pháp luật.
Tại phiên tòa bị cáo khai và thừa nhận Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Chà truy tố bị cáo về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự là đúng pháp luật.
Trợ giúp viên pháp lý trình bày lời bào chữa cho bị cáo: Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Chà truy tố bị cáo về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249/BLHS là hoàn toàn đúng người, đúng tội, không oan sai. Trợ giúp viên pháp lý hoàn toàn đồng tình với cáo trạng của VKSND huyện Mường Chà về tội danh, điều luật áp dụng và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51/BLHS, đề nghị HĐXX xem xét áp dụng mức khởi điểm mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp, đồng thời cũng đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung và miễn án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo. Chiếc xe mô tô là tài sản chung của vợ chồng, việc bị cáo sử dụng chiếc xe đi mua ma túy chị H không biết nên tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước ½ giá trị chiếc xe và trả lại cho chị H vợ bị cáo ½ giá trị chiếc xe là đúng quy định.
Sau khi nghe lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát; lời bào chữa của trợ giúp viên pháp lý, bị cáo không có ý kiến tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát và cũng không có ý kiến bổ sung gì với lời bào chữa của trợ giúp viên pháp lý. Lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để sớm được trở về đoàn tụ với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:
. Xét về hành vi của bị cáo: Qua tranh tụng và xét hỏi tại phiên tòa bị cáo Lâm Văn Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang lập vào hồi 13 giờ 00 phút, ngày 15/02/2023; Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu hồi 14 giờ 05 phút, ngày 15/02/2023; Biên bản mở niêm phong xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong lại vật chứng vào hồi 17 giờ 45 phút, ngày 15/02/2023; Bản kết luận giám định số 349/KL-KTHS ngày 23/02/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên và các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án, đúng với nội dung bản Cáo trạng số: 18/CT-VKSMC ngày 26/4/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Chà, tỉnh Điện Biên đã truy tố cụ thể: Hồi 12 giờ ngày 15/02/2023, tại khu vực bản Nậm He, xã Mường Tùng, huyện Mường Chà, tỉnh Điện Biên, tổ công tác Công an huyện Mường Chà phối hợp với Công an xã Mường Tùng phát hiện bắt quả tang Lâm Văn Đ cất giấu trái phép 4,173 gam Heroine, mục đích để sử dụng cho bản thân.
. Xét hành vi tàng trữ trái phép 4,173 gam Heroine với mục đích sử dụng cho bản thân của bị cáo Đ là nguy hiểm cho xã hội nghiêm trọng, hành vi đó đã trực tiếp xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với chất ma tuý. Nhà nước ta nghiêm cấm, mua bán, tàng trữ..., trái phép các chất ma tuý dưới bất kỳ hình thức nào đều phải bị xử lý nghiêm trước pháp luật. Bị cáo nhận thức và hiểu rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng để thỏa mãn nhu cầu sử dụng ma túy cho bản thân bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, buộc bị cáo phải chịu trách nhiệm trước pháp luật mọi hành vi và hậu quả của mình đã gây ra. Với hành vi và khối lượng ma túy nêu trên của bị cáo Đ đã phạm vào tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249/ BLHS.
Vậy, khẳng định Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Chà, tỉnh Điện Biên truy tố bị cáo Lâm Văn Đ về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.
. Lời bào chữa của trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho bị cáo phù hợp với quan điểm của Viện kiểm sát, các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa, tình tiết giảm nhẹ, hình phạt tù, hình phạt bổ sung, án phí là có căn cứ được chấp nhận. Đối với xe mô tô bị cáo sử dùng đi mua ma túy là làm phương tiện liên quan đến hành vi phạm tội do vậy cần phải tịch thu, nộp ngân sách nhà nước.
. Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Từ nhỏ được bố mẹ nuôi dưỡng năm 1999 kết hôn với Khoàng Thị H và làm ăn sinh sống tại bản Nậm He, xã Mường Tùng, huyện Mường Chà, tỉnh Điện Biên. Năm 2015 đi cai nghiện ma túy tại trung tâm chữa bệnh Giáo dục - Lao động tỉnh Điện Biên. Ngày 15/02/2023, bị bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của mình đây là tình tiết xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51/BLHS. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
. Xét tính chất của vụ án là nghiêm trọng: Như chúng ta đã biết ma túy là loại độc dược nó hủy hoại sức khỏe của con người, làm suy thoái phẩm chất đạo đức nếu ai sử dụng nó, làm khuynh gia bại sản gia đình ly tan, hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng cho bản thân của bị cáo không những đã trực tiếp hủy hoại sức khỏe của bị cáo mà còn tiếp tay cho các đối tượng khác mua bán trái phép chất ma túy, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Với tính chất mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo là cần thiết, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian, nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt sống có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời đây cũng là điều kiện thuận lợi để bị cáo từ bỏ ma túy. Với tính chất mức độ hành vi phạm tội, nhân thân khối lượng ma túy bị cáo tàng trữ thì áp dụng mức khởi điểm mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị về mức hình phạt đối với bị cáo là phù hợp.
. Xét về hình phạt bổ sung: Qua biên bản xác minh của Cơ quan điều tra thể hiện bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, kinh tế khó khăn nên HĐXX miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249/BLHS.
. Vật chứng vụ án: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47/BLHS, điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106/BLTTHS, tịch thu tiêu hủy gồm: Tịch thu tiêu hủy: 4,09 gam Heroine còn lại sau khi trừ mẫu giám định; 01 mảnh nilon màu xanh, 01 mảnh nilon màu hồng và 01 phong bì niêm phong vật chứng ban đầu là vật nhà nước cấm tàng trữ và là vật không có giá trị sử dụng.
- Trong quá trình điều tra cũng như phiên tòa chị Khoàng Thị H khai: Chị H là vợ của Lâm Văn Đ. Chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA AIRBLADE màu sơn: vàng-đen; biển kiểm soát 27V1-064.01, là tài sản chung của vợ chồng chị H và Lâm Văn Đ, việc bị cáo Đ sử dụng chiếc xe đi mua ma túy chị H không biết. Chị có nguyện vọng xin lại chiếc xe để làm phương tiện đi lại cho gia đình. Tuy nhiên chiếc xe máy bị cáo Đ dùng làm phương tiện đi mua ma túy cho nên theo định tại điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS phải tịch thu, nộp ngân sách nhà nước chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA AIRBLADE màu sơn: vàng-đen; biển kiểm soát 27V1-064.01; số máy: 5115080, số khung: 415037. Xe đã qua sử dụng không kiểm tra tính năng bên trong (kèm theo 01 chìa khóa xe và 01 chứng nhận đăng ký xe máy số: 007808; cấp ngày 24/11/2014 mang tên Khoàng Thị H; địa chỉ: Bản N, xã M, huyện M, tỉnh Đ: Biển số đăng ký: 27V1-064.01).
- Trả lại cho bị cáo 01 giấy phép lái xe số: AT382980, cấp ngày: 13/12/2011, mang tên: Lâm Văn Đ, sinh năm 1980; 01 Căn cước công dân số: 011080000769, cấp ngày: 16/4/2021, mang tên Lâm Văn Đ, SN: 1980, trú tại: Bản N, xã M, huyện M, tỉnh Đ; 01 con dao nhọn dài 38 cm, phần lưỡi dao bằng kim loại dài 23 cm, chiều rộng lưỡi dao là 3 cm, phần cán dao làm bằng gỗ dài 15 cm, dao đã cũ, đã qua sử dụng, được bỏ trong bao dao bằng gỗ, có dây đeo bằng nhựa màu cam không liên quan đến hành vi phạm tội.
. Nguồn gốc ma túy mà bị cáo bị thu giữ bị cáo khai mua của một người đàn ông dân tộc Mông. Tuy nhiên bị cáo, không biết tên, tuổi, địa chỉ, lai lịch của người này, nên không có cơ sở để điều tra xử lý theo quy định pháp luật, HĐXX không xem xét.
. Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, tại phiên tòa bị cáo xin miễn án phí nên HĐXX xét miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo theo quy định của pháp luật.
. Xét về hành vi và các quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Mường Chà, Điều tra viên, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Chà, từ lúc khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đảm bảo về hình thức, đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, trợ giúp viên pháp lý, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Lâm Văn Đ đã phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; khoản 1 Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51/BLHS.
Xử phạt bị cáo Lâm Văn Đ 04 (bốn) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ 15/02/2023.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47/BLHS, điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106/BLTTHS.
- Tịch thu tiêu hủy: 4,09 gam Heroine còn lại sau khi trừ mẫu giám định; 01 mảnh nilon màu xanh, 01 mảnh nilon màu hồng và 01 phong bì niêm phong vật chứng ban đầu.
- Tịch thu nộp ngân sách nhà nước chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA AIRBLADE màu sơn: vàng-đen; biển kiểm soát 27V1-064.01; số máy: 5115080, số khung: 415037. Xe đã qua sử dụng không kiểm tra tính năng bên trong (kèm theo 01 chìa khóa xe; 01 chứng nhận đăng ký xe máy số: 007808; cấp ngày 24/11/2014 mang tên Khoàng Thị H; địa chỉ: Bản N, xã M, huyện M, tỉnh Đ: Biển số đăng ký: 27V1-064.01).
- Trả lại cho bị cáo 01 giấy phép lái xe số: AT382980, cấp ngày: 13/12/2011, mang tên: Lâm Văn Đ, sinh năm 1980; 01CCCD số: 011080000769, cấp ngày: 16/4/2021, mang tên Lâm Văn Đ, SN: 1980, trú tại: Bản N, xã Mg, huyện M, tỉnh Đ; 01 con dao nhọn dài 38 cm, phần lưỡi dao bằng kim loại dài 23 cm, chiều rộng lưỡi dao là 3 cm, phần cán dao làm bằng gỗ dài 15 cm, dao đã cũ, đã qua sử dụng, được bỏ trong bao dao bằng gỗ, có dây đeo bằng nhựa màu cam không liên quan đến hành vi phạm tội.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng hồi 14 giờ 00 phút, ngày 27/4/2023 giữa Công an huyện Mường Chà, tỉnh Điện Biên và Chi cục thi hành án dân sự huyện Mường Chà, tỉnh Điện Biên).
3.Căn cứ khoản 2 Điều 136/BLTTHS và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016 của UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
* Căn cứ Điều 331 và 333/BLTTHS, bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (30/5/2023). Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo phần bản án quyết định những gì liên quan đến quyền lợi nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (30/5/2023).
| Nơi nhận: - VKSND huyện M; - Công an huyện M; - Phòng KTNV - THA TAND tỉnh; - Phòng 07 Viện kiểm sát tỉnh Đ; - Phòng PC10 – CA tỉnh Đ; - Sở Tư pháp tỉnh Đ; - Chi cục Thi hành án DS, huyện M; - Hồ sơ THA; - Bộ phận QLHSNV-CAHMC; - UBND xã M thay thông báo; - Bị cáo; Người bào chữa; - Người CQLNVLQ; - Lưu hồ sơ vụ án; Lưu VP. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Quàng Văn Xôm |